Người Thái là một trong 54 dân tộc anh em tại Việt Nam. Họ có những nét đẹp về phong tục tập quán mang đậm bản sắc riêng của đồng bài. Hôm nay, hãy cùng VANHOADOISONG tìm hiểu về nguồn gốc cũng như những phong tục tập quán đặc trung của dân tộc Thái qua bài viết này nhé!
Giới thiệu chung dân tộc Thái ở Việt Nam
- Tên tự gọi: tùy theo cách phát âm ở từng khu vực mà tên tự gọi có thể là Tay, Tày, Thay hoặc Thày.
- Một số tên gọi khác: Tay Thanh, Tay Mười, Tay Dọ, Man Thanh, Tày Mường, Hàng Tổng hay Thổ.
- Các nhóm dân tộc Thái: Tay Đón (Thái Trắng), Tay Đăm (Thái Đen), Tay Đèng (Thái Đỏ), Tay Dọ (Thái Yo) và một số khác.
- Dân số: Là dân tộc có dân số đứng thứ 3 tại Việt Nam với 1.820.950 người – Theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019.
- Ngôn ngữ: Các nhà dân tộc học xếp tộc người Thái vào Nhóm nói tiếng Thái – ngữ hệ (họ ngôn ngữ) Kra-Dai (hay còn gọi là Tai-Kadai).

Nguồn gốc dân tộc Thái ở Việt Nam
Người Thái là 1 nhóm dân tộc thiểu số thuộc sắc tộc Thái và tổ tiên của họ có mặt ở khu vực Tây Bắc Việt Nam từ rất sớm.
Theo cuốn “Thailand: A short history (Thái Lan: Lịch sử Tóm lược)”, tác giả David Wyatt viết rằng xuất xứ của người Thái là từ phía Nam Trung Quốc. Do sức ép của người Hán và người Việt ở 2 phía bắc và đông nên người Thái đã dần di cư về phía Nam và Tây Nam.

Phân bố dân cư của dân tộc Thái tại Việt Nam
Theo Tổng điều tra dân số năm 1999, số lượng người Thái sinh sống tại Việt Nam là 1.328.725 người, chiếm khoảng 1.74% dân số nước ta.
Và đến thống kê năm 2019, số người Thái tăng lên đáng kế với số dân khoảng 1.820.950 người, sinh sống ở tất cả 63 tỉnh, thành phố và là dân tộc có số dân đông thứ 3 trên nước ta sau người Kinh và người Tày. Cụ thể, dân cư người Thái tập trung ở các tỉnh:
- Sơn La: 669.265 người, chiếm 53.2% dân số toàn tỉnh và 36.9% tổng số người Thái tại Việt Nam.
- Nghệ An: 338.559 người, chiếm 10.1% dân số toàn tỉnh và 19% tổng số người Thái tại Việt Nam.
- Thanh Hóa: 247.817 người, chiếm 6.6% dân số toàn tỉnh và 14.5% tổng số người Thái tại Việt Nam.
- Điện Biên: 213.714 người, chiếm 38% dân số toàn tỉnh và 12% tổng số người Thái tại Việt Nam.
- Lai Châu: 142.898 người, chiếm 32.3% dân số toàn tỉnh và 7.7% tổng số người Thái tại Việt Nam.
- Yên Bái: 61.964 người.
- Hòa Bình: 34.387 người.
- Đắk Lắk: 19.709 người.
- Đắk Nông: 11.250 người.

Những nhóm người Thái tại Việt Nam
Người Thái Đen
Năm 2002, ước tính có khoảng 699.000 người Thái Đen tại Việt Nam. Nhóm người Thái Đen tập trung nhiều ở khu vực tỉnh Sơn La và Điện Biên. Một số thì cư trú ở phía Tây Thanh Hóa.

Người Thái Trắng
Năm 2002, ước tính có khoảng 280.000 người Thái Trắng tại Việt Nam. Nhóm người Thái Trắng tập trung chủ yếu ở tỉnh Lai Châu, Điện Biên và một số huyện ở tỉnh Sơn La (Phù Yên, Bắc Yên, Quỳnh Nhai).

Một số nét văn hóa tiêu biểu dân tộc Thái
Kiến trúc nhà ở
Người Thái ở nhà sàn và có sự khác nhau về dáng vẻ của chúng. Có 4 loại kiến trúc nhà sàn thường thấy của người Thái:
- Nhà sàn có mái tròn, hình dáng như một cái mai rùa, hai đầu mái hồi sẽ có biểu tượng khau cút.
- Nhà sàn có 4 mái, mặt sàn hình chữ nhật gần vuông và hiên nhà có lan can.
- Nhà sàn dáng dài và cao, gian nhà ở dưới biểu tượng khau cút sẽ dùng làm tiền sảnh.
- Nhà sàn có mái thấp, hẹp lòng, gần giống với nhà sàn của người Mường.

Trang phục dân tộc Thái
Trang phục nam
Trang phục thường ngày của nam giới thường là áo cánh ngắn, cổ tròn, xẻ ngực và không có cầu vai. Họ sẽ mặc cùng với một chiếc quần xẻ đũng.
Vào các ngày lễ, tết thì họ mặc loại áo dài xẻ nách có màu chàm, đầu quấn khăn và chân đi guốc. Còn trong tang lễ thì họ mặc nhiều loại áo sặc sỡ tương phản màu sắc với ngày thương.

Trang phục nữ
Ngày thường, phụ nữ Thái Trắng mặc áo cánh ngắn màu sáng (trắng, hồng, xanh lá,…), cổ áo “chữ V” cùng với váy đen không hoa văn. Áo sẽ được điểm xuyến bằng cài cúc bạc có tạo hình ong, bướm, ve,… Mặc cùng với váy kín màu đen.
Vào dịp lễ, tết thì họ sẽ mặc loại áo dài đen thân thẳng và nách áo được trang trí theo kiểu đáp 2 mảng hoa văn trong bố cục hình tam giác.
Trang phục ngày thường của phụ nữ Thái Đen sẽ là áo ngắn màu tối (chàm hoặc đen), cổ áo dáng tròn và đứng. Khăn đội đầu của họ được gọi là “piêu”, nó được thêu hoa văn trang trí theo phong cách từng mường.
Trang phục lễ, tết của họ là các loại áo xẻ nách, chui đầu, nhiều màu sắc và hoa văn trang trí đa dạng hơn Thái Trắng.

Lễ hội dân tộc Thái
Người Thái Đen cúng tổ tiên vào tháng 7 và 8 âm lịch. Còn người Thái Trắng ăn tết theo âm lịch của Bản Mường có cúng thần đất, nước, núi và linh hồn người làm trụ cột.

Tục cưới xin của người Thái
Trước kia, người Thái có tục ở rể tức là người chồng sẽ về cư trú ở nhà vợ sau khi cưới. Khoảng vài năm sau, khi hai vợ chồng có con thì mới chuyển về sống ở nhà chồng. Hiện nay thì tục cưới xin này đã không còn.
Khi các cô gái Thái lấy chồng thì họ sẽ phải búi tóc ngược lên đỉnh đầu. Tục lệ này thường được thấy ở nhóm người Thái Đen.

Tục lệ ma chay
Dân tộc Thái có quan niệm người chết vẫn tiếp tục “sống” ở thế giới bên kia. Do đó, ma chay là lễ tiễn họ về với “mường trời”. Tục lệ ma chay của người Thái có 2 bước sau:
- Pông: Chỉ quá trình phúng viếng để đưa tiễn linh hồn người mất đến cõi hư vô. Sau đó thi thể sẽ được đem chôn ở rừng.
- Xống: Chỉ quá trình gọi linh hồn người mất về trú ngụ tại gian thờ cúng tổ tiên trong nhà.

Văn hóa nhân gian
Người Thái có chữ viết từ rất sớm nên các tác phẩm văn học, các bài dân ca hay luật lệ đều được ghi chép lại trên giấy bản hoặc lá cây. Hai tác phẩm thơ ca nổi tiếng của họ là Xống chụ xon xao (Tiễn dặn người yêu) và Khun Lú Nàng Ủa (Chàng Lú nàng Ủa).
Dân tộc Thái rất yêu thích ca hát và nhảy múa. Đặc biệt là “khắp”, nó là lối ngâm thơ hoặc hát theo lời thơ, có thể kết hợp với đệm đàn và múa.
Ngoài ra, Hạn Khuống và Ném Còn là hai đặc trưng văn hóa cực kỳ độc đáo và thú vị của người Thái.

Tôn giáo, tín ngưỡng dân tộc Thái
Người Thái có tục thờ cúng tổ tiên, thờ cúng thần nông nghiệp, thần sông núi từ bao đời nay. Việc thờ cúng gắn liền với các lễ hội trong năm như: lễ xuống đồng, lễ cầu mưa, lễ rước hồn lúa, lễ cầu mùa,… cầu mong cho gia đình có sức khỏe dồi dào, mùa màng bội thu.
Người Thái chú trọng vấn đề tâm linh dân tộc nên các tục cưới xin, tang ma được tổ chức chặt chẽ theo nghi thức truyền thống.
Bên cạnh đó, một trong những nét đặc trưng trong phong tục của người Thái chính là việc cúng tổ tiên sẽ được người Thái Ðen thực vào tháng 7, tháng 8 âm lịch, người Thái Trắng sẽ tổ chức tết theo âm lịch, còn bản mường có cúng thần đất, thần núi, thần nước và linh hồn người làm trụ cột.

Ẩm thực
Người Thái có cách chế biến món ngon rất tinh tế và khéo léo khi kết hợp nhiều loại thực phẩm, gia vị hài hòa nhau để tạo nên sự đặc trưng cho ẩm thực vùng miền. Các món ăn như xôi nếp, cơm lam, rượu cần, các loại đồ nướng,… sẽ là những nổi bật cho ẩm thực của người dân nơi đây.

Giáo dục
Là dân tộc sinh sống ở nhiều vùng miền trên cả nước nên người Thái có điều kiện khá tốt để tiếp cận đến giáo dục.
Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số năm 2019, tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, biết viết chữ phổ thông là 81.6%; tỷ lệ đi học của trẻ em ở cấp tiểu học là 100.8%; cấp trung học cơ sở là 94.6%; cấp trung học phổ thông là 56.5%.
Bên cạnh đó, tỷ lệ người từ 15 tuổi trở lên biết đọc, viết chữ dân tộc Thái chiếm là 4.3%, tỷ lệ trẻ em dân tộc Thái trên 5 tuổi được đi học chiếm 99.4%, những tỷ lệ này chiếm khá cao so với những dân tộc thiểu số khác ở nước ta.

Ngôn ngữ và chữ viết dân tộc Thái
Tương tự như nhiều dân tộc khác, người Thái có ngôn ngữ và văn tự riêng, thuộc nhóm nói tiếng Thái – ngữ hệ (họ ngôn ngữ) Kra-Dai (hay còn gọi là Tai-Kadai).
Ngôn ngữ Thái này chủ yếu là ngôn ngữ đơn âm tiết, có thanh điệu, cấu trúc khá giống tiếng Việt thông thường, 1 câu bao gồm chủ ngữ – vị ngữ – bổ ngữ, có thể đảo ngữ với những câu mệnh lệnh.
Văn tự Thái có nguồn gốc từ hệ chữ Sanskrit (Ấn Độ). Chữ Thái cổ Việt Nam thống nhất cách cấu tạo và đọc, nhưng lại có 8 loại ký tự khác nhau.
Vào những năm 1954 – 1969, chữ Thái khu tự trị Tây Bắc cũ đã được cải tiến, thống nhất và đổi tên là Chữ Thái Việt Nam thống nhất. Đến năm 2008, chữ Thái được cải tiến và chính thức được đưa vào sử dụng, được gọi ngắn gọn là chữ Thái Việt Nam.

Đặc điểm kinh tế của người Thái
Dân tộc Thái có nhiều kinh nghiệm trong việc làm nông, đặc biệt là trồng lúa nước. Họ biết cách đắp phai, đào mương, dựng con và bắc máng để lấy nước làm ruộng. Bên cạnh đó, người Thái còn thành thạo trong việc chăn nuôi gia súc, gia cầm.
Ngoài ra, họ có nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ nổi tiếng như vải thổ cẩm. Sản phẩm này được nhiều khách du lịch yêu thích bởi màu sắc rực rỡ và hoa văn độc đáo. Việc áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất cũng đã mang đến cho người Thái hiệu quả kinh tế vượt trội.
Ngoài ra, nắm bắt xu thế thị trường nhanh chóng, đồng bào Thái đã tận dụng nét đặc trưng dân tộc tạo ra thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp như: dịch vụ phục vụ khách du lịch, buôn bán,…

Xem thêm:
- Tìm hiểu một số nét văn hóa tiêu biểu của dân tộc Kinh
- Tìm hiểu vài nét đặc trưng tiêu biểu từ bản sắc văn hóa dân tộc Mường
- Nét đẹp văn hóa dân tộc Hoa trong đời sống tinh thần và vật chất
Hy vọng qua bài viết trên VANHOADOISONG đã giới thiệu thông tin cơ bản về những nét đặc trưng về văn hóa dân tộc Thái của Việt Nam đến bạn. Đừng quên đón chờ những bài viết thú vị khác nhé!