GMT+7
Trang chủ / Tản văn

Diều sáo

Đăng lúc: 17/06/2020 14:08 (GMT+7)

 Diều sáo.jpg

Tranh minh họa của Ngọc Hiếu.

Ngày xưa, làng tôi nổi tiếng là một làng chơi diều. Vào quãng trung tuần tháng sáu âm lịch, khi cày cấy đã xong, sấm sét bớt phần dữ dội, giông tố giãn ra, bầu trời trong xanh, gió nồm nam thổi đều và mạnh, các hội diều trong làng bắt đầu mang diều ra thả. Diều làng tôi không phải là loại diều cánh bướm, hình tam giác mỏng manh được dán bằng ni lông xanh đỏ tím vàng nhiều tua, nhiều màu sặc sỡ giống như những cánh diều thả trên bãi biển Sầm Sơn hay thả ở một vài công viên trong các thành phố bây giờ; càng không phải loại diều sản xuất công nghiệp hàng loạt đựng trong túi ni lông khi cần thả có thể xòe ra hay thổi hơi cho phồng lên có đủ hình chim, cò, tôm, cá... Diều làng tôi giản dị, hầu như chỉ có một màu nâu, màu gụ như màu quần áo của làng. Nhưng làm được một cái diều thì công phu lắm.

Gọi là diều bởi vì, hình thù của nó gần như giống hệt hình thù con diều hâu khi bay liệng trên nền trời. Diều của làng tôi nhiều kích cỡ khác nhau. Có cái một mét, có cái hơn một mét. Có cái hơn hai mét. Toàn bộ xương diều được làm bằng tre. Tre làm xương diều phải là loại tre nạc, không sâu, không kiến, không cụt ngọn, gióng thẳng, không giảo óng quá, nếu giảo óng quá thì xương diều yếu; không nhặt mắt quá, nếu nhặt mắt quá khi uốn sẽ giòn, dễ gãy. Cái xương sống diều không được đẽo mỏng, nếu đẽo, vót  mỏng, diều không đủ sức chịu lực gió lên cao. Quan trọng nhất là hai xương khung. Hai xương khung vót phải thật tròn, đều. Nếu vót hai bên cánh xương khung không đều thì trọng lực diều không cân, hay bị chiềng, mất thăng bằng. Khi thả diều thường bị đảo, quay lộn vòng rồi gập xuống. Độ cong của hai cánh quyết định độ bay cao hay thấp của diều. Cái này lại chưa ai xây dựng thành công thức. Kinh nghiệm của nghệ nhân là bí quyết. Chỉ có một loại giấy dán diều tốt nhất, đó là giấy viết chữ nho ngày xưa. Người ta gọi là giấy bản hay giấy bổi. Dán diều bằng nhựa sung đặc chứ không phải dán bằng keo. Trước khi dán diều, hàng bát mủ sung được đưa về. Giấy bản được bệt nhựa sung dán đều hai lớp. Toàn bộ xương diều, dây buộc khung diều được bọc giữa hai lớp giấy ấy. Diều cơ bản hoàn thành nhưng chưa thả được. Muốn thả được còn phải sơn diều. nói là sơn diều nhưng tực ra quét nhựa hồng, nhựa cạy, nhựa củ nâu. Hàng rổ, hàng mủng hồng non, cạy non được hái về, có khi phải kiếm cả củ nâu nữa, bỏ vào cối đá giã thật nhỏ, ép lấy nước đặc. Loại nhựa đặc hỗn hợp ấy  quét đều lên cánh diều. Cứ như thế quét đi quét lại nhiều lần. Cánh diều có màu gụ thẫm, cứng cồm cộp nhưng lại rất dai, không giòn. Gió to mấy cũng không tài nào xé rách được. Nước không thấm được. Mưa bao nhiêu ngày, diều bay trên trời cao vút cũng không việc gì.

Đã làm diều công phu như thế này thì nhất định phải có sáo. Diều mang sáo gọi là diều sáo. Trẻ con chơi diều thường là loại diều không ống sáo. Diều người lớn chơi trăm phần trăm là diều sáo. Có diều mang một sáo. Có diều mang hai sáo, ba sáo. Có diều mang đến năm sáo. Đây là diều tầm đại. Khi diều đã mang đến ba sáo, năm sáo thì bao giờ cũng hai sáo gốc, một sáo ngọn; hoặc ba sáo gốc, hai sáo ngọn. Khâu làm sáo rất cầu kỳ. Cả làng chỉ có một vài nghệ nhân làm được những chiếc sáo có tiếng vừa vang xa, vừa có âm sắc đẹp, trong, vi vu, không đoản thanh khi thời tiết thay đổi. Ống sáo phải chọn được loại ống tre bánh tẻ, nhỏ, to vừa phải, tròn, đều. Nếu để cật tre làm sáo có hai nhược điểm: Một là sáo nặng, diều không bay cao hết tầm; hai là sáo dễ bị nứt, mất thanh, mất tiếng. Vì vậy, khi làm sáo phải tước đi lớp cật cứng để khỏi nứt tách. Khi tước cật đi rồi, ố sáo được quấn giấy bản quét nhựa hồng non, cạy non cho bền. Miệng sáo khoét bằng gỗ vàng tâm hay gỗ dổi. Đây là hai loại gỗ có dầu, ít biến dạng, khi khoét miệng sáo, dao nhỏ dễ lượn, lợi sáo ít bị sứt. Nếu không biết khoét thì  miệng sáo không hút được gió vào, sáo sẽ không kêu hoặc kêu kém.

Dây thả diều không dùng bằng dây cước, dây nhợ mà phải bằng dây tre. Người ta phải dùng từ ba đến bốn cây tre cái nân đầu nân đuôi, không cụt ngọn, chẻ dọc theo thân tre, bỏ bớt phần gốc, bỏ phần mắt, chỉ chọn lấy phần nạc không sâu không kiến chạy dọc suốt chiều dài cây tre. Các thanh tre dài lột bỏ bụng, chỉ lấy phần cật. Dây vót tròn, nhẵn, mịn đều như sợi dây thép dùng làm dây phơi. Hàng trăm dây như thế nối lại với nhau bằng một cách nối đặc biệt để dây thật thẳng rồi cuộn vào một khung hình sa kéo sợi, lòng máng, có đường kính năm, sáu mươi phân. Toàn bộ cuộn dây được bỏ vào một cái nồi ba mươi hay một cái chảo quân dụng luộc trong nước muối cho mềm ra sau đó đem phơi trong bóng mát cho khô từ từ.

Ngày thả diều là một ngày đẹp trời, gió nồm nam thổi mạnh. Phải bốn, năm người mới thả được diều. Trước khi thả phải chọn một gốc cây đủ vững để neo diều. Khó nhất là lúc ban đầu tung diều lên. Khi diều đã lên được bốn, năm trăm thước, bắt được gió trên, thì không bao giờ lo diều xuống nữa. Diều cứ bay tít tận trời cao năm ngày, mười ngày, có khi nửa tháng. Mưa cũng mặc. Cơn giông cũng mặc. Chỉ khi trời có bão thì mới phải đưa diều xuống. Lúc đưa diều xuống cũng phải bốn, năm người mới đưa được. Một hai người không đủ sức. Ở cách làng ba, bốn cây số đã nghe thấy tiếng sáo diều của làng. Ông già bà cả, trẻ con, buổi trưa, buổi chiều, đêm trăng, đem chõng, đem chiếu, có khi trải lá chuối ra đầu làng ngắm diều, nghe sáo diều. Mùi chè xanh, khoai luộc, tiếng rít thuốc lào mới thanh thản làm sao. Lòng người lâng lâng vời vợi.

Chẳng may diều đứt dây, diều thường bay đi rất xa. Có khi phải chia nhau sang các xã khác để tìm. Cũng có nơi bắt bỏ tiền ra chuộc. Hết mùa thả diều, những chiếc diều được đem về gác qua hai xà nhà gian giữa hệt như một chiếc thuyền câu. Dây cũng được cất nhấc cẩn thận. Một cái diều có khi thả được vài ba vụ.

Bao nhiêu lần xem hội thả diều của Huế, hội diều có nhiều nước tham gia, diều bay đặc bãi biển Sầm Sơn... Đủ loại diều, đủ màu , đủ kích cỡ, có cái dài hàng trăm mét nhưng tuyệt nhiên tôi không hề thấy một cái diều nào mang sáo. Cũng không một cái diều nào thả bằng cuộn dây tre, bay cao được năm, sáu trăm mét như những cánh diều làng tôi. Trong khi nhìn những cánh diều xanh đỏ tím vàng, lòng tôi lại khát về với tiếng sáo diều của làng quê mình ngân lên giữa bầu trời trong xanh cao vút...

Nguyễn Minh Khiêm

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1