GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Núi Na và Na Sơn động phủ

Đăng lúc: 30/12/2019 12:00 (GMT+7)

- Núi Na (mà dân gian ở xứ Thanh vẫn gọi nôm na là núi Nưa) là một thắng cảnh nổi tiếng trong cả nước đã từng được nhiều danh sĩ mô tả và đề cập đến trong sử sách và văn thơ cổ.

Trở về với quá khứ, chúng ta có thể biết, Nguyễn Trãi - danh nhân hồi thế kỷ XV - có lẽ là người đầu tiên chép cái tên "núi Na" vào cuốn sách "Dư địa chí" của mình như: "Na, Tùng và Lương ở Thanh Hóa. Na, Tùng là tên hai núi, Lương là tên sông..."(1) (Nguyễn Trãi - Ức Trai di tập, Dư địa chí, NXB Sử học. Hà Nội. 1960. tr39). Sang thế kỷ XVI, danh sĩ Nguyễn Dữ cũng chép về núi Na với chuyện một ẩn sĩ thời Hồ và con đường lên động - nơi vị ẩn sĩ tu tiên đắc đạo ở khu vực phía đông núi (thuộc địa bàn Cổ Định - xã Tân Ninh của huyện Triệu Sơn) trong "Truyền kỳ mạn lục". Tiếp sau đó, nhà sử học ở thời cuối Lê, đầu Nguyễn lại chép lại một cách tỷ mỷ hơn: "phủ Tĩnh Gia ở phía Tây Thanh Hóa. Huyện Nông Cống ở miền Thượng du, đất liền với huyện Đông Sơn, phía Tây Nam có nhiều ngọn núi chập chùng vòng quanh, một chi nhánh núi Na chót vót đứng thẳng, trong dãy này có nhiều ngọn kỳ lạ, động đẹp. Về cổ tích thì có đường đi tắt của ông lão kiếm củi... ẩn cư trong động sâu...". Còn sách Đại Nam nhất thống chí, bộ Quốc sử quán triều Nguyễn đã khẳng định núi Na tức núi Nưa và chép rõ như sau: "Núi Nưa tức Na Sơn. Ở huyện Nông Cống; mạch núi từ phủ Thọ Xuân kéo đến, chạy dài độ ba mươi dặm, đến địa phận tổng Cổ Định thì nổi vọt lên nhiều ngọn, ngọn cao nhất là núi Nưa, bên ngoài là bốn dòng nước giao lưu, đỉnh núi có động, tương truyền thời Hồ có người tiều phu ở ẩn học đạo, Hồ Hán Thương cho triệu người tiều phu ấy không chịu ra, Hán Thương bèn sai đốt núi"(2)...

Như vậy, núi Na (tức núi Nưa) mà Nguyễn Trãi (thế kỷ XV), Nguyễn Dữ (TK XVI) và các tác giả thời Nguyễn đề cập với chuyện ẩn sĩ thời Hồ và con đường lên động chính là ở khu vực Cổ Định, xã Tân Ninh, huyện Triệu Sơn nay. Ở đó hiện vẫn còn một "Am Tiên" trên đỉnh núi, tương truyền là nơi vị ẩn sĩ thời Hồ đã từng sống. Sau này, vào cuối thế kỷ thứ XIX, đầu thế kỷ XX, chí sĩ Nguyễn Thượng Hiền - người đã từng có nhiều gắn bó, kỷ niệm với núi Na - đã có nhiều bài thơ ca ngợi đầy cảm xúc. Trước Nguyễn Thượng Hiền còn có danh sĩ Phan Huy Ôn (1755 - 1786) quê tận Hà Tĩnh cũng có bài thơ vịnh núi Na thật thi vị và chứa chan tình cảm...

Như vậy, núi Na và động tu tiên thời Trần - Hồ mà tất cả sử sách và văn thơ từ đầu thế kỷ XX trở về trước là ở phía đông dãy núi Nưa chứ không phải chỗ Phủ Na (hay gọi là Na Sơn động phủ) ở phía Tây dãy núi (thuộc địa bàn xã Xuân Du, huyện Như Thanh) như vài người lầm tưởng. Cũng ở phía đông núi Nưa (chỗ Cổ Định - Tân Ninh), các nhà sử học đã có sự khẳng định đó là vùng đất cổ có con người tụ cư từ rất sớm. Ở sát gần đó có di chỉ văn hóa núi Sỏi thuộc thời kỳ văn hóa Đông Sơn muộn. Vì vậy, rất có thể đây là vùng trung tâm căn cứ của khởi nghĩa Bà Triệu (năm 248 sau CN). Từ Cổ Định - Tân Ninh đến khu vực Phủ Na (Xuân Du - Như Thanh) những mười cây số. Cho nên, việc gán ghép những nội dung lịch sử từ phía Đông lên phía Tây là một điều không thể chấp nhận được.

 phủ na.jpg

Phủ Na.

Trở lại vùng đất phía Tây núi Nưa (tức núi Na) - nơi có cụm di tích Phủ Na (hay còn gọi là di tích Na Sơn động phủ), không cần phải tìm hiểu lâu chúng ta cũng dễ dàng nhận biết tất cả các làng Việt (tức làng của người Kinh) ở đây đều là những làng kinh tế mới thời hợp tác hóa (từ 1960 trở đi) mà cư dân hầu hết là từ các huyện Thiệu Hóa và Triệu Sơn lên. Toàn xã có 14 làng (trong đó gồm 6 làng của người Kinh và 8 làng của người Mường). Nhưng riêng các làng (chòm) của người Mường cũng chỉ mới hình thành vào nửa cuối thế kỷ XIX. Theo học giả CH.Rôbequain - tác giả bộ sách Le Thanh Hoa xuất bản năm 1929 thì "các tổng Hạ Thưởng và Xuân Du có vẻ là người ở mới nhất. Viên quan châu họ Quách, nhưng phần đông là các tù trưởng Mường Hòa Bình... Khi viên Tổng đốc Ninh Bình là Tôn Thất Trinh được bổ vào Thanh Hóa, viên thổ ty này đã đi theo và được phép khai khẩn đất lúc ấy còn hoang vu và đầy hùm beo, coi thuộc hạ các tổng Hạ Thưởng và Xuân Du hiện nay, trước hết viên thổ ty này thành lập làng Xuân Du vào năm 1858, ở phía Bắc châu lỵ và dần dần ở phía Nam, thành lập các làng Phụng Nghi, Mậu Lâm, Thuần Trung, Vinh Khang (tổng Xuân Du) và cuối cùng, năm 1887 lập làng Xuân Hòa, Châu Lỵ và y chết ở đấy và đã đem theo từ Ngọc Lâu 30 gia đình vào Xuân Du. Các gia đình khác, số đông hơn di cư sau này từ khắp các châu Lạc Sơn, từ các vùng kế cận Hòa Bình và các vùng từ Bắc Thanh Hóa (tổng Sa Lung). Một trong những người này sau đó thành lập bên cạnh làng Xuân Hóa, các làng Hạ Thưởng và Chan Khê và cứ như vậy, dần dần cả vùng phía Đông châu Như Xuân do người Mường gốc ở Bắc Kỳ đến cư trú, đó là một trường hợp đáng chú ý của quá trình cư dân gần đây" (Le. Thanh Hoa, bản dịch của Xuân Lênh, tập I, tr.24).

Thế là từ việc xác định làng Xuân Du và tổng Xuân Du có từ bao giờ, chúng ta đã có đủ bằng chứng để hoàn toàn bác bỏ quan điểm cho rằng di tích Phủ Na, xã Xuân Du có từ thời Lê vì đây là vùng đất mà trước 1858 còn hết sức hoang vu và chưa có con người cư trú.

Chúng tôi cũng đã tra cứu kỹ cuốn sách "Thanh Hóa chư thần lục", một cuốn sách thống kê các vị thần được thờ phụng ở Thanh Hóa biên soạn vào năm 1903 theo lệnh của vua nhà Nguyễn (triều Thành Thái). Trong số 943 vị thần được thống kê thì có 200 thần là thiên thần, 700 thần là nhân thần. Riêng các nữ thần được thờ ở đây đều ghi rất rõ ràng về địa danh xã, thôn, huyện. Tra đi, soát lại chúng tôi không hề thấy có chữ Phủ Na, hoặc Xuân Du nào. Ngay cả việc chép về nữ thần Liễu Hạnh, sách Thanh Hóa chư thần lục đã thống kê được 48 nơi thờ, nhưng riêng ở hai tổng Xuân Du và Như Lăng của Như Xuân lúc ấy đều không có xã, thôn nào thờ cả.

Như vậy, di tích Phủ Na ở Xuân Du vẫn chưa có là một điều dễ hiểu.

 Quan niệm tắm rửa bằng nước suối Phủ Na sẽ được nhiều may mắn, làm ăn thuận lợi nên hàng nghìn người dân đầu năm đến nơi này để chiêm bái.jpg

Quan niệm tắm rửa bằng nước suối Phủ Na sẽ được nhiều may mắn, làm ăn thuận lợi nên hàng nghìn người dân đầu năm đến nơi này để chiêm bái.

Rất may ở trụ sở UBND xã Xuân Du hiện nay vẫn còn giữ được cây thượng lương của đền Mẫu - Phủ Na có khắc chữ "Hoàng triều Duy Tân tam niên tuế thứ Kỷ Dậu lục nguyệt nhị thập lục nhất Qúy Mão Giáp Dần bàn thụ trụ thượng lương đại cát vượng". Từ đó, giúp chúng ta biết một cách chính xác là đền Mẫu - Phủ Na được xây dựng vào năm 1909 (tức năm cất thượng lương). Một hiện vật nữa cũng rất có giá trị là bát hương gốm thời Pháp thuộc có khắc chữ "Phủ Na" hiện vẫn còn, càng có đủ cơ sở để khẳng định Phủ Na là một di tích ra đời muộn vào cuối thập niên đầu tiên của thế kỷ XX. Qua sự mô tả của dân địa phương, thì kiến trúc ở cụm di tích Phủ Na là kiến trúc Nguyễn nhưng có ảnh hưởng kiến trúc nhà thờ phương Tây (như cửa vòm cuốn, hoặc nâng cao, trang trí phần trước mái của nhà tiền đường, hậu cung v.v...).

Một vấn đề nữa rất quan trọng mà chúng ta cần quan tâm đó là việc xác định hệ thống thờ phụng và các nhân vật thờ tại cụm di tích Phủ Na. Qua nhiều đợt điền dã và khảo sát thực tế, chúng tôi đã xác định một cách chính xác hệ thống thờ phụng ở Phủ Na (cả trong quá khứ và hiện tại) theo sơ đồ như sau:

 2058a29a.jpg

- Đền Trình là đền đầu tiên ở ngoài vào. Người Việt (Kinh) thì gọi là đền Cô Ba Thoải (hay Cô Bơ). Đó chính là hiện thân của Mẫu Thoải (tức mẹ Nước). Đền được dựng ngay cạnh suối nước lớn. Người Mường thì gọi là Cô Ba Đón.

- Đền Đức Ông: Hiện nay và trước đây cũng chỉ có hai cung. Cung trong thờ Đức Thánh Trần (tức Đại vương Trần Hưng Đạo). Cung ngoài thờ Ngũ vị tôn ông, Ba tòa quan lớn, Tứ phủ vạn linh và Hội đồng các quan (tất cả đều là đệ tử của Đức Thánh Trần).

- Đền Quan Hoàng: Thờ 12 vị quan hoàng, trong đó có cả một số tướng của khởi nghĩa Lam Sơn như Lê Khôi (mà dân gian gọi là Quan Hoàng Mười), hoặc quan lớn Triệu Tường - thờ chính ở Gia Miêu, Hà Trung (có thể là Nguyễn Kim chăng?)

- Đền Mẫu (tức Phủ Na): Đây là khu trung tâm (hay còn gọi là phủ chính) có tính chất chi phối, bao trùm toàn bộ hệ thống thờ ở Phủ Na. Trước đây đền gồm 4 cung, có hệ thống tường, sân, thềm, hai dải vũ, bức bình phong, tam cấp, lan can và cổng tam quan bề thế. Đền hiện nay dựng lại không đúng với quy mô, kiến trúc xưa.

Đền Mẫu có 4 cung thờ:

+ Cung 1: Thờ Liễu Hạnh công chúa và Bà Âu Cơ

+ Cung 2: Thờ Vua cha Ngọc Hoàng Thượng đế

+ Cung 3: Thờ Ngũ vị tôn ông

+ Cung 4: Thờ Hội đồng và Thần hoàng bản thổ

Đền Mẫu (Phủ Na) được xây dựng ở khu đất khá bằng phẳng và rộng rãi ở thung lũng chân núi Nưa trong không gian rừng - núi - suối khe vây quanh rất thơ mộng.

- Đền Cô Chín (tức Cửu thiên huyền nữ). Đó chính là phủ thiên (thuộc hệ thống thờ tứ phủ). Nhưng nguồn gốc nguyên thủy là tín ngưỡng thờ thần Mặt Trời của người Việt cổ mà người Mường khi đến đây vẫn còn bảo lưu. Đền này được dựng trên khối đá bằng phẳng ở ngay sườn cao của phía Tây núi Nưa, sát với chỗ đó là bệ thờ lộ thiên không có mái che, nay được dân xây dựng thành một lầu nhỏ ngay cạnh vực thác.

- Nơi thờ Thánh Tản Viên là một khối đá bằng ở đỉnh Eo Én thuộc hệ thống núi Nưa. Dân gian nói chung đều nói đó là nơi thờ Tản Viên sơn thần (tức thần núi Tản Viên), còn người Mường Xuân Du thì gọi đó là nơi thờ Bua (vua) Ba Vì. Hiện tại, đây vẫn là nơi thờ lộ thiên như trước kia.

Từ hệ thống thờ và nhân vật thờ trên, chúng ta có thể rút ra một vài nhận xét như sau:

Từ năm 1909 cho đến nay (2013) sau vừa đúng 107 năm, cụm di tích Phủ Na ra đời và tồn tại với tư cách là hệ thống thờ của đạo Mẫu Việt Nam (hay nói chính xác hơn, đó là đạo Mẫu ở vùng Bắc Trung bộ và Bắc bộ Việt Nam) mà trung tâm của nó là Phủ Dầy (Nam Định), Phố Cát (Thạch Thành), Sòng Sơn (Bỉm Sơn).

Tuy hệ thống thờ Mẫu ở Phủ Na - Xuân Du ra đời có muộn hơn nhiều di tích thờ Mẫu khác, song trong quá trình tồn tại, Phủ Na đã trở thành một địa chỉ hành hương nổi tiếng và rất quen thuộc của người xứ Thanh. Có một điều đặc biệt ở cụm di tích Phủ Na - Xuân Du mà ít người để ý, đó là sự hiện diện của một lớp văn hóa tín ngưỡng lâu đời đã có mặt ở vùng đất này trước khi có sự du nhập của đạo Mẫu. Đó là tín ngưỡng thờ thần núi Tản Viên, mẹ Âu Cơ - một tín ngưỡng nguyên thủy của người Việt cổ mà nhóm cư dân Mường mang đến đây ngay từ lúc chiếm lĩnh và khai phá vùng đất Xuân Du của rừng núi Ngàn Nưa này. Theo các bậc cao niên người Mường ở Xuân Du thì các vị tiền nhân của họ ở quê gốc và về đây đều thờ Thánh Tản Viên và mẹ Âu Cơ, nhưng việc thờ thì chủ yếu là thờ lộ thiên ở ngoài trời chứ không thờ ở trong nhà (Tản Viên thì ở trên núi, còn mẹ Âu Cơ thì ở chân núi). Ngoài ra, người Mường còn thờ cả vị chúa Cửa rừng mà sau đó người ta gọi là chúa Thượng Ngàn.

Khi đạo Mẫu - Liễu Hạnh du nhập vào vùng đất rừng núi Xuân Du, những người Việt của đồng bằng xứ Thanh đã không dám bài bác và vứt bỏ thứ tín ngưỡng "thiêng" của đồng bào Mường, mà trái lại còn phải duy trì và dựa vào đó để tồn tại, phát triển một cách song hành, bền vững cho đến tận bây giờ. Vì thế mà mẹ Âu Cơ mới được đưa vào phủ điện tam tòa thánh mẫu để cùng thờ chung với Liễu Hạnh công chúa - mẫu nghi của thiên hạ. Đó là sự độc đáo của đạo Mẫu ở Phủ Na mà chúng ta ít gặp ở các đền thờ Mẫu khác. Ngay cả trong các kỳ lễ hội "tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ" (tức tháng Tám giỗ Đức Thánh Trần, tháng Ba giỗ chúa Liễu Hạnh), điểm xuất phát của kiệu trong ngày rước bóng bao giờ cũng xuất phát từ đền Mẫu (Phủ Na) lên Eo Én - chỗ thờ Tản Viên sơn rồi từ đó về lại đền Mẫu và từ đền Mẫu mới đến các điểm khác trong khu vực. Điều này chứng tỏ sự hỗn dung, giao hòa giữa đạo Mẫu và tín ngưỡng thiêng (thờ Tản Viên) của người Mường và người Kinh đã diễn ra rất sinh động. Hoặc một ví dụ nữa về trang phục trong ngày rước bóng, ngoài kiệu bát cống (8 người nam khênh) và kiệu long đình (4 người nam khênh) đều mặc áo thâm dài, quần trắng, khăn xếp như ta vẫn thấy ở các nơi khác, nhưng riêng kiệu võng lại là 8 phụ nữ mặc trang phục Mường khênh. Qua đây, chúng ta càng nhận rõ hơn sự đan xen, hòa quyện của văn hóa Việt - Mường ở Xuân Du thật điển hình và đặc sắc.

Về lễ hội từ năm 1990 đến nay, cứ mỗi mùa Xuân đến, dòng người từ các vùng xa, gần, trong và ngoài tỉnh đổ dồn về vùng đất thiêng Phủ Na - Xuân Du trẩy hội để cầu lộc, cầu tài, cầu bình yên... mỗi lúc một đông hơn. Tất cả đều thực hiện một quy luật là lên rừng (tức lên Phủ Na) rồi xuống biển (có thể là Sầm Sơn, hay Lạch Bạng...). Và cái "luật tự nhiên", "hội tự nhiên" ấy chính là thứ sản phẩm của thời cơ chế thị trường đã làm cho rất nhiều người lầm tưởng tháng Giêng là tháng hội Phủ Na. Nhưng thực ra, Phủ Na một năm chỉ có hai kỳ hội chính là vào tháng Hai và tháng Tám ta (tháng Hai từ ngày mùng 1 đến ngày 12, đêm 30 rạng ngày mùng 1 là lễ hội mở cửa đền, 12 là ngày rước bóng và kết thúc kỳ hội. Tháng Tám từ ngày mùng 1 đến ngày 16 và ngày đầu là mở cửa đền, ngày cuối là ngày rước bóng).

Như vậy, theo lệ cũ và cả lệ mới thì một năm ở Phủ Na có ba kỳ hội (tháng Giêng, tháng Hai, tháng Tám âm lịch) với tổng số gần 60 ngày. Nếu biết khai thác thì nguồn thu về du lịch lễ hội và tín ngưỡng Phủ Na sẽ không phải là nhỏ.

Hiện nay, huyện Như Thanh và xã Xuân Du đang từng bước quy hoạch tổng thể, chi tiết để trùng tu, tôn tạo cụm di tích Phủ Na trở thành một địa chỉ hành hương và du lịch lễ hội ngày một hấp dẫn hơn. Với phương châm Nhà nước và nhân dân cùng làm, bộ mặt của Phủ Na - Xuân Du chắc chắn sẽ trở lại như xưa và hơn xưa.   

-----------

(1) Phan Huy Chú - Lịch triều hiến chương loại chí, tập I, Nxb Sử học, 1960, tr 48.

(2) Quốc sử quán triều Nguyễn - Đại Nam nhất thống chí, quyển VI, Nxb KHXH Hà Nội, 1970, tr 232 - 233.

Phạm Tấn

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1