GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Nhà Trịnh với sự nghiệp trung hưng

Đăng lúc: 08/03/2020 12:00 (GMT+7)

- Nhà Lê Sơ, sau đại nghiệp chống quân Minh xâm lược thắng lợi, đã trở thành một triều đại phát triển thịnh vượng. Ngót 100 năm trị vì, con cháu trong hoàng tộc nhà Lê không nối được nghiệp cha ông, ngày càng trở nên suy tàn, những cuộc nổi dậy chống lại triều đình nổ ra liên miên...

 Di tích Phủ Trịnh xã Vĩnh Hùng huyện Vĩnh Lộc.jpg

Di tích Phủ Trịnh xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc.

Mạc Đăng Dung nổi lên đánh dẹp các thế lực, lên ngôi xưng hoàng đế, lấy niên hiệu là Minh Đức, mở ra thời kỳ Nam - Bắc triều. Nhà Mạc cai quản từ trấn Sơn Nam trở ra Bắc, gọi là Bắc Triều, các cựu thần nhà Lê trấn giữ vùng Thanh - Nghệ trở vào Nam, gọi là Nam triều. Vương triều Lê mất vào tay nhà Mạc, nhưng ánh hào quang rực rỡ của triều Lê Sơ trong sự nghiệp chống quân Minh vẫn in đậm trong tâm thức của nhân dân, nên ngọn cờ phò Lê diệt Mạc vẫn được giương lên. Đặc biệt tại Thanh Hóa, đất quý hương của nhà Lê, nơi phát tích của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, sau sự biến Mạc Đăng Dung lên ngôi năm 1527, một lần nữa lại trở thành căn cứ địa để Nguyễn Kim, một cựu thần nhà Lê, cùng con rể là Trịnh Kiểm quyết tâm khôi phục uy quyền cho nhà Lê.

Thanh Hóa trở thành đất căn bản của chính quyền Lê - Trịnh, đồng thời cũng là trung tâm chính trị sôi động của đất nước vào thế kỷ XVI. Lần lượt các cựu thần nhà Lê nổi dậy chống Mạc trên đất Thanh Hóa: Khởi nghĩa của Lê Ý - con của công chúa An Thái thuộc dòng cháu ngoại họ Lê; khởi nghĩa của Lê Công Uyên; khởi nghĩa của Lê Tuấn Kiệt; và một số cuộc nổi dậy lẻ tẻ khác cũng lần lượt bị dập tắt. Tháng 12/1529, Hữu vệ điện tiền tướng quân An Thanh Hầu Nguyễn Kim, quê ở Gia Miêu ngoại trang (nay thuộc xã Hà Long, huyện Hà Trung) đã sang đất Ai Lao, tìm được con nhỏ của vua Lê Chiêu Tông là Lê Duy Ninh, lập làm vua lấy hiệu là Trang Tông. Từ đó các hào kiệt quy tụ về ngày càng nhiều để xây dựng lực lượng, tiến hành đánh đuổi nhà Mạc, trung hưng nhà Lê.

Sau khi lên ngôi, vua Lê Trang Tông phong Nguyễn Kim làm Thái sư Hưng quốc công. Năm 1539, Trịnh Kiểm là con rể Nguyễn Kim được phong làm Dực quận công.

Theo truyền thuyết kể lại và tập sách “Trịnh gia thế phả” do GS Hoàng Xuân Hãn dịch, câu chuyện về sự nghiệp của nhà Trịnh và Thái vương Trịnh Kiểm rất ly kỳ. Việc nhà Trịnh lập ngôi chúa đã được tiên đoán từ 4 đời trước.

Trịnh Kiểm quê ở sách Sóc Sơn, huyện Vĩnh Phúc, trước năm 1533 là huyện Vĩnh Ninh, do kỵ huý với vua Lê Trang Tông (huý Ninh) nên đổi là Vĩnh Phúc, đến đời Tây Sơn đổi là Vĩnh Lộc cho đến ngày nay. Ông tổ 4 đời của Trịnh Kiểm là Trịnh Liễu vốn tư gia nghèo đói, nhưng rất ham đọc sách. Một hôm, Trịnh Liễu đi cày ở xứ đồng trong núi, thấy một ông già sắc mặt sáng tươi, thần thế thanh tú. Hai người cùng đàm đạo cho đến khi mặt trời khuất bóng thì Trịnh Liễu mời khách về nhà mình nghỉ qua đêm, đối đãi trọng thị. Ông già khen Trịnh Liễu có đức, sẽ tích được âm công, liền bày cách táng mộ cha mẹ vào chỗ huyệt khí quý, trời sẽ giáng phúc cho 4 đời sau phát vương.

Trịnh Kiểm được sinh hạ nhằm ngày 24 tháng 8 năm Quý Hợi, tức năm 1503 - niên hiệu Cảnh Thống thứ 6 đời vua Lê Thánh Tông, đúng 4 đời y như tiên đoán của vị thần tiên năm nào. Theo gia phả tộc Trịnh, Trịnh Kiểm vốn mồ côi cha từ nhỏ, lớn lên trí dũng khác thường. Lúc bấy giờ, Mạc Đăng Dung tiếm ngôi vua Lê. Tướng quân nhà Mạc là Ninh Bang hầu đóng ở huyện Vĩnh Ninh (Vĩnh Lộc ngày nay) thu nạp Trịnh Kiểm làm gia thần. Sau biết nhà Mạc tiếm ngôi là việc phi nghĩa, Trịnh Kiểm chạy sang sách Cổ Lũng, Cẩm Thuỷ theo Nguyễn Kim. Ninh Bang hầu sai quân lính lùng tìm không được, tức giận bắt mẹ ông bỏ rọ trôi sông. Thi hài thân mẫu Trịnh Kiểm trôi đến đâu, lạ thay có đàn vẹt lớn tập hợp lại như đám mây, lượn quanh che chở đến đó. Dân làng nhìn thấy, về lấy cuốc xẻng ra an táng, lúc quay ra vừa chính Ngọ, đã thấy mối đùn thành ngôi mộ lớn. Mọi người cho đó là thiên táng. Đàn vẹt vẫn bay xung quanh phần mộ rất lâu rồi mới bay đi. Dân làng bèn lập một ngôi nghè thờ, gọi là nghè Vẹt với hàm ý biết ơn loài vẹt đã che chở cho mẫu thân Trịnh Kiểm. Ngày nay, nghè Vẹt đã được xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa cấp Quốc gia.

Với thực tài của mình, Trịnh Kiểm đã được Nguyễn Kim trọng dụng và gả cho con gái là Nguyễn Thị Ngọc Bảo. Công việc trung hưng nhà Lê đang tiến hành thuận lợi thì năm 1545, Nguyễn Kim bị ám hại. Việc trung hưng nhà Lê dang dở, Trịnh Kiểm thay cha vợ tiếp tục đứng ra gánh vác.

Vua Lê phong Trịnh Kiểm làm Đô tướng tiết chế các xứ thủy bộ chư dinh, kiêm nội ngoại Bình chương quân quốc trọng sự Thái sư Lạng quốc công, được toàn quyền xét xử, trù liệu mọi công việc của Nhà nước. Cho đến lúc này, thế lực nhà Mạc ở phía Bắc vẫn còn rất mạnh, triều Lê mới chỉ thu phục được vùng Thanh - Nghệ làm chỗ đứng chân. Vua Lê Trang Tông cùng các tướng lĩnh chọn Thanh Hóa, đất phát tích của nhà Lê làm địa bàn căn bản để xây dựng, củng cố chính quyền, lực lượng quân sự, tiến hành xây dựng kinh đô ở Vạn Lại - Yên Trường (nay thuộc các xã Xuân Châu, Thọ Lập, huyện Thọ Xuân). Trong gần 50 năm thuộc thời Nam - Bắc triều, Vạn Lại- Yên Trường đóng vai trò là kinh đô kháng chiến của nhà Lê Trung Hưng. Năm Giáp Dần 1554, Thái sư Trịnh Kiểm dời hành dinh của mình về Biện Thượng quê ông (nay thuộc xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc) để chỉ huy quân sỹ. Trong cuộc chiến Nam - Bắc triều, Thanh Hóa trở thành chiến trường khốc liệt. Với sự nỗ lực của Thái sư Trịnh Kiểm, Thanh Hóa trở thành trung tâm phát triển lực lượng kháng chiến, nhiều địa bàn giao tranh ở Thanh Hóa là mồ chôn quân Mạc. Như vậy, trong công cuộc trung hưng nhà Lê, Thanh Hóa được chọn là căn cứ địa, là nơi để xây dựng kinh đô kháng chiến, đất căn bản để khôi phục vương triều. Cho thấy tầm quan trọng đặc biệt của mảnh đất xứ Thanh trong lịch sử quốc gia Đại Việt thời Hậu Lê.

Khi cuộc chiến Nam - Bắc triều còn đang tiếp diễn thì vua Lê Trang Tông mất, vua Trung Tông lên thay được 8 năm cũng mất, chưa có ai kế vị. Mặc dù có kẻ xu nịnh xui Trịnh Kiểm xưng đế hiệu, song ông vẫn một lòng một dạ giữ danh nghĩa thần tử của nhà Lê. Trịnh Kiểm tìm Lê Duy Bang (cháu 5 đời của Lê Trừ - anh Lê Lợi) lập làm vua, hiệu là Lê Anh Tông. Trịnh Kiểm được vua phong làm Thượng tướng Thái quốc công và tôn là Thượng Phụ. Năm 1569, Thái sư Trịnh Kiểm ốm nặng, đã dâng biểu xin trao binh quyền cho vua Lê. Vua sắc phong cho Trịnh Cối (con trưởng của Trịnh Kiểm) nắm quyền tiết chế, nối nghiệp cha, và giao cho con thứ là Trịnh Tùng cùng các tướng theo cùng để đánh giặc. Ngày 18/2 âm lịch (năm 1570) Trịnh Kiểm mất, thọ 68 tuổi. Đương thời khi cầm quyền ngài không xưng là chúa nhưng được đời sau truy tôn là Minh Khang Thái Vương. Để tưởng nhớ ngày mất của Trịnh Kiểm, hàng năm cứ đến ngày 18/2 âm lịch, con cháu dòng họ Trịnh và khách thập phương đã về Phủ Trịnh dâng hương, ôn lại những đóng góp của ông và nhà Trịnh đối với đất nước.

Sau khi Thái sư mất, Trịnh Cối bất tài, tư cách hèn kém, nhà Mạc nhân cơ hội ấy đã cử Mạc Kính Điển đem 10 vạn quân tinh nhuệ, 700 chiến thuyền hòng tiêu diệt chế độ Nam triều. Trong trận chiến đầu tiên với nhà Mạc, Trịnh Cối thất bại và đầu hàng. Vua Lê Anh Tông sắc phong cho Trịnh Tùng chức Trưởng quận công, tiết chế thủy bộ chư dinh, cầm quân đánh giặc thay cho Trịnh Cối. Từ đây, Trịnh Tùng nổi lên như một ngôi sao sáng của dòng dõi nhà Trịnh kế tục sự nghiệp trung hưng nhà Lê, được đánh giá là có tài năng quân sự bậc nhất trong các đời chúa Trịnh. Nắm trọng trách thay Minh Khang Thái Vương Trịnh Kiểm trong vòng 23 năm, ngài đã một lòng phò tá vua Lê, củng cố triều chính, dùng tài thao lược quân sự để vạch ra những kế sách, trực tiếp điều binh, khiển tướng trong phần lớn các trận đánh ác liệt. Trong 33 trận ngài cầm quân đốc chiến, chưa trận nào thất bại. Nhà bác học Phan Huy Chú đã đánh giá tài năng quân sự của Thành Tổ Triết Vương Trịnh Tùng: “Khéo léo vỗ về tướng sỹ, đo đoán tình thế của giặc không sai, dùng binh như thần... công trùm thiên hạ, oai lừng khắp nơi”. Với những công lao to lớn ấy, Trịnh Tùng được vua Lê Thế Tông phong Đô nguyên súy, Tổng quốc chính Thượng phụ Bình An Vương. Năm 1592, Trịnh Tùng cùng quân sĩ giải phóng được thành Thăng Long sau 65 năm bị nhà Mạc chiếm đóng, rước vua Lê ngự giá về kinh năm 1593, hoàn thành đại nghiệp mà ông ngoại mình là Triệu tổ Nguyễn Kim và cha là Thái sư Trịnh Kiểm khởi xướng.

Trịnh Tùng là vị Chúa xuất sắc trong công cuộc đấu tranh chống các thế lực nội chiến, khéo léo trong ngoại giao và tránh được các tranh chấp láng giềng, đưa ra các chính sách tiến bộ kiên quyết trong tư cách người lãnh đạo sau vua, dẫn đến thắng lợi toàn diện trong phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, đồng thời xây dựng chiến lược mở cõi xuống phía Nam và kế truyền 11 đời chúa, duy trì phát triển đất nước không có thù địch ngoại xâm. Ngày nay, để tỏ lòng thành kính tri ân Bình An Vương - Thành Tổ Triết Vương Trịnh Tùng, con cháu họ Trịnh cả nước đã cung tiến để xây dựng khu lăng mộ ngài tại xã Vĩnh Hùng và tổ chức đúc tượng ngài bằng đồng nguyên chất, kích thước gấp 2,5 lần người thật.

Tiếp nối chúa Trịnh Tùng, các đời chúa sau này như Trịnh Tráng, Trịnh Tạc, Trịnh Căn, Trịnh Cương, Trịnh Doanh... đã tiếp tục chấn chỉnh chính sự Đàng Ngoài, khôi phục sản xuất bị tàn phá do chiến tranh, và có những đóng góp đáng kể về văn hóa, ngoại giao. Các chúa Trịnh dưới thời Lê Trung Hưng đã có vai trò quan trọng trong việc phò Lê, diệt Mạc, giữ yên bờ cõi, thống nhất Nam - Bắc triều, xây dựng quốc gia Đại Việt phát triển, để lại những di sản văn hóa, lịch sử vô cùng to lớn.

Khởi nghiệp từ Minh Khang Thái vương Trịnh Kiểm đến Chúa cuối cùng là Trịnh Bồng, trải qua 12 đời, từ nửa đầu thế kỷ XVI đến cuối thế kỷ XVIII, nhà Trịnh đã có gần 250 năm trên vũ đài chính trị. Mặc dù đây là giai đoạn lịch sử đầy biến động của đất nước, nhưng các chúa Trịnh vẫn thể hiện được vai trò của mình, tạo nên một thể chế chính trị hết sức độc đáo trong lịch sử phong kiến Việt Nam, chính quyền vừa có cung vua, vừa có phủ chúa, cùng song song lãnh đạo quốc gia Đại Việt phát triển.

Mai Hương

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1