GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Mở lối đi riêng cho di sản văn hóa phi vật thể xứ Thanh (Bài 1): Đậm đặc những giá trị

Đăng lúc: 11/09/2020 17:00 (GMT+7)

- Thanh Hóa được biết đến là vùng đất di sản với sự hiện hữu của hơn 1.500 di tích. Và xứ Thanh, có lẽ cũng xứng đáng được xem là “cái nôi” của các loại hình di sản văn hóa phi vật thể với đầy đủ 7 loại hình: Tiếng nói - chữ viết; ngữ văn dân gian; nghệ thuật trình diễn dân gian; tập quán xã hội; lễ hội truyền thống; nghề thủ công truyền thống; tri thức dân gian. Ở đó, mỗi tộc người lại có những đặc trưng riêng, giao thoa hòa hợp nhưng không trộn lẫn. Tất cả cùng làm nên một sắc thái văn hóa xứ Thanh. Cũng như di sản văn hóa vật thể, bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa phi vật thể là điều dĩ nhiên. Và gắn việc khôi phục, bảo tồn với phát triển du lịch cũng là điều tất yếu nên làm, cần làm và phải làm.

Vùng đất xứ Thanh là nơi cư ngụ, sinh sống của 42 dân tộc (từ 1 người trở lên). Trong đó, dân số từ 50 người trở lên có 28 dân tộc và từ 500 người trở lên có 7 dân tộc, bao gồm: Kinh; Mường; Thái; Dao; Thổ; Mông; Khơ Mú. Và theo thống kê năm 2018, ngoài người Kinh thì người Mường (hơn 36 vạn), người Thái (hơn 22 vạn) chiếm tỷ lệ đông vượt trội. Dẫn giải như vậy để hiểu rằng, sự đa sắc trong “bức tranh văn hóa xứ Thanh” vốn dĩ được dệt nên bởi những sắc màu riêng biệt đầy ý nghĩa. Mỗi dân tộc, từ những sáng tạo tự thuở cha ông, đời nối đời hậu thế vẫn đang cùng nhau âm thầm gìn giữ, trao truyền với niềm tự hào và kiêu hãnh. Đi đến mỗi vùng đất, ta lại đắm mình trong không gian văn hóa đặc sắc của người dân địa phương. Là câu chuyện truyền thuyết từ thuở khai dựng bản làng, lễ hội để người dân tỏ lòng thành kính, biết ơn trời đất và tiền nhân, hay đơn giản chỉ sinh hoạt đời thường cũng tạo thành nét văn hóa...

Từ điệu hò sông Mã - ngũ trò Viên Khê - trò diễn Xuân Phả

Dòng sông Mã từ bao giờ đã gắn liền với vùng đất và con người xứ Thanh, thắm thiết như ơn nghĩa sinh thành. Nhắc đến xứ Thanh, người ta nhớ đến vùng đất bên bờ sông Mã và nhắc đến dòng sông Mã, sao có thể quên đi một xứ Thanh anh hùng. Sông Mã hùng vĩ nơi thượng nguồn, vượt qua bao thác ghềnh, trắc trở, cuối cùng cũng trở về với biển lớn mênh mông. Trên dòng sông huyền thoại ấy, khi đường thủy vẫn là tuyến giao thông quan trọng thì hình ảnh những “người lái đò” quê Thanh dĩ nhiên cũng thật phi thường theo cái cách họ dám vượt qua những trắc trở để chinh phục thiên nhiên. Và, người ta tin rằng, điệu hò sông Mã đã được sinh ra từ chính thực tế khắc nghiệt ấy. Lúc hào hùng dữ dội, khi khoan thai bồng bềnh...

Đến thời điểm hiện tại, hò sông Mã với 19 làn điệu còn được lưu giữ trên địa bàn toàn tỉnh thì riêng huyện Hà Trung có 14 làn điệu. Tương ứng với từng làn điệu lại là nhịp điệu, lời hò khác nhau. Khi thuyền rời bến bắt đầu bằng hò “rời bến”, hò xuôi nhịp đôi 1, hò xuôi nhịp đôi 2; phải vượt thác, qua ghềnh thì có “hò vượt thác, hò mắc cạn”; qua chùa, đền có “hò niệm phật”, “hò làng văn” và khi đã về đích bình an thì kết thúc bằng “hò cập bến”... Thế mới biết, sự sáng tạo của cha ông từ thực tế cuộc sống lao động sản xuất mới thực sự phi thường, tài hoa nhường nào.

Năm 2019, huyện Đông Sơn đã tổ chức đón bằng công nhận di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia Ngũ trò Viên Khê (dân ca, dân vũ Đông Anh). Đây được xem là loại hình diễn xướng văn hóa dân gian đặc trưng của cư dân nông nghiệp lúa nước đồng bằng sông Mã. Trong số nhiều tích trò còn lưu giữ thì trò “Múa đèn” được xem là trung tâm. Nó tái hiện lại những hoạt cảnh trong đời sống sản xuất nông nghiệp của người dân khi xưa: Thắp đèn, luống bông, luống đậu, vãi mạ, chẻ lạt đan lừ, nhổ mạ, đi cấy, kéo sợi, dệt cửi, vá may... Tất cả đều được biểu diễn bởi những thiếu nữ lứa tuổi đôi tám, chưa chồng, trên đầu đội đèn, kết hợp với động tác cơ thể uyển chuyển nhưng tuyệt nhiên không được để đèn rơi.

Dĩ nhiên, dân ca, dân vũ Đông Anh không chỉ có trò Múa đèn. Nó là hệ thống các trò diễn xướng đi kèm các bài dân ca, điệu múa, động tác phản ánh đời sống sinh hoạt, tâm tư tình cảm, kinh nghiệm sản xuất, văn hóa ứng xử của người dân Việt xưa nói chung. Vì thế dễ hiểu vì sao, di sản văn hóa phi vật thể dân ca, dân vũ Đông Anh của xứ Thanh lại trở nên gần gũi, quen thuộc với người dân ở nhiều địa phương trong cả nước. Sự ra đời và hoàn chỉnh của di sản không phải chỉ là ngày một, ngày hai. Đó là câu chuyện của cả quá trình góp nhặt, sáng tạo, trao truyền với tất cả tinh hoa, tâm huyết và niềm tự hào.

 trò xuân phả.JPG

Trò diễn Xuân Phả là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia đầu tiên ở Thanh Hóa được đưa vào danh mục.

Vốn là trò diễn chốn cung đình, nhưng trải qua quá trình dân gian hóa, trò diễn Xuân Phả nơi vùng đất hai vua (Thọ Xuân) không chỉ là di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia đầu tiên của Thanh Hóa được đưa vào danh mục. Nhiều người còn ví đó như “đặc điểm nhận dạng văn hóa xứ Thanh”. Nhận định này có thể chưa thực sự toàn diện song cũng thật có lý. Bởi lẽ, không chỉ đại diện cho Thanh Hóa tham gia các sự kiện văn hóa lớn trong cả nước (kỷ niệm 1000 năm Thăng Long; festival Huế...), trò diễn Xuân Phả còn thường xuyên được biểu diễn trong những lễ hội lớn của tỉnh, đặc biệt lễ hội Lam Kinh diễn ra hàng năm vốn không thể thiếu trò diễn Xuân Phả. Và Thanh Hóa tự hào là địa phương duy nhất sở hữu, lưu giữ trò diễn độc đáo này.

Có nhiều ý kiến về nguồn gốc của trò diễn Xuân Phả. Bên cạnh việc cho rằng nó ra đời từ thời Đinh, gắn liền với câu chuyện Thành hoàng làng Xuân Phả báo mộng cho sứ giả của vua Đinh về cách đánh dẹp giặc ngoại xâm. Nhằm cảm tạ thần linh đã giúp đỡ, sau khi thắng trận, vua Đinh đã phong tước Đại Hải Long Vương cho Thành hoàng làng, đồng thời ban thưởng cho người dân Xuân Phả 5 điệu múa trò để dâng lên Thành hoàng làng trong ngày hội. Tuy nhiên, cũng có ý kiến về việc trò Xuân Phả vốn là lễ nhạc thời Hậu Lê, được vị quan đại thần phụ trách lễ nhạc trong triều đình nhà Lê khi ấy lúc cáo quan về quê đã truyền dạy cho người dân địa phương. Dù còn nhiều ý kiến khác nhau, song có một điều chắc chắn, các trò diễn trong di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia trò diễn Xuân Phả là sự tái hiện cảnh 5 quốc gia cổ xưa đem lễ vật cùng những tiết mục múa hát đặc sắc của quốc gia họ đến chúc mừng Hoàng đế nước Việt xưa kia. Nó được xem như lễ hội ăn mừng chiến thắng với các điệu múa đặc trưng: Ai Lao (Lào); Chiêm Thành (Chăm); Ngô Quốc (bộ tộc của đảo Hải Nam Trung Quốc); Lục Hồn Nhung (bộ tộc thuộc Mông Cổ); Hoa Lang (bộ tộc thuộc Cao Ly ở Triều Tiên)... Nhắc lại giá trị của một trò diễn dân gian để hiểu hơn những công lao, vị thế của Hoàng đế nước Đại Việt xưa kia. Phải chăng, đó cũng là niềm tự hào cho hậu thế hôm nay.

Ngược ngàn miền tây theo nhịp Khua luống mờ sương

Miền tây xứ Thanh với cảnh sắc sơn thủy hữu tình vốn đã làm xiêu lòng bao bậc tao nhân mặc khách và những đôi chân ưa khám phá. Tạm biệt đồng bằng sông Mã, cùng ngược ngàn theo những cung đường dốc ngoằn ngoèo, sự trong trẻo, mát lành, tĩnh lặng của núi rừng như xua tan hết tất cả mệt mỏi. Cùng hòa mình vào không gian ấy, ta chợt thấy lòng nhẹ bẫng trong những thanh âm bản làng. Là tiếng cồng, chiêng ngân xa, tiếng khèn dìu dặt tha thiết để chàng trai, cô gái vượt đèo, lội suối tìm về với nhau... và thanh âm khua luống của đồng bào Thái như làm bừng tỉnh cuộc sống một ngày mới.

Cũng như di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia dân ca, dân vũ Đông Anh, Khua luống của người Thái là loại hình diễn xướng văn hóa được sinh ra từ thực tế cuộc sống lao động, sản xuất. Ấy là khi những nếp nhà sàn nép mình bên sườn núi vẫn đang chìm trong sương sớm bồng bềnh thì người phụ nữ Thái đã kịp trở mình tỉnh dậy, bắt đầu một ngày làm việc mới bên luống giã gạo. Tiếng chày khua vào luống khi nhịp nhàng, lúc bất chợt ngẫu hứng tạo nên thanh âm thật hấp dẫn. Từ đấy, người Thái đã biết cách tạo nên một loại hình diễn xướng văn hóa dân gian thật đặc biệt. Tiếng chày khi lách cách, lúc lại trầm ấm, hòa với tiếng coong giàm (1 trống, 4 cồng chiêng) tạo nên bản hòa ca không lời thật đặc biệt nơi núi rừng. Đúng như một nhận định “Văn hóa phản ánh hiện thực cuộc sống qua từng thời kỳ lịch sử, trong đó âm nhạc dân gian là một bộ phận cấu thành văn hóa”.

 khua luống của đồng bào Thái.JPG

Khua luống của đồng bào Thái miền tây xứ Thanh ra đời từ thực tế cuộc sống.

Ngày nay, khoa học kĩ thuật phát triển, người phụ nữ Thái có thể không còn phải khua luống giã gạo. Tuy nhiên, khi khua luống đã trở thành loại hình diễn xướng văn hóa dân gian thì sức sống là bất diệt. Trong đời sống của đồng bào Thái miền tây xứ Thanh nói riêng, khua luống thường được diễn tấu trong những sự kiện đặc biệt: ngày tết, lễ hội.

11 huyện miền núi phía Tây xứ Thanh với gần 60 vạn đồng bào các dân tộc thiểu số cùng sinh sống, đoàn kết. Mỗi dân tộc lại có những đặc trưng, sáng tạo văn hóa riêng. Và khua luống chỉ là một trong rất nhiều những giá trị văn hóa đặc sắc, đã, đang và cần được bảo tồn: Lễ hội Pồôn Pôông; lễ hội Chá mùn; hát Xường đang... Và văn hóa đôi khi không chỉ là văn hóa. Như cách nói của ông Phạm Quang Thẩm - Phó Chủ tịch Hội Dân tộc học và Nhân học Thanh Hoá, người từng có gần 40 năm gắn bó với việc nghiên cứu, tìm hiểu về các tộc người, đời sống văn hóa của đồng bào dân tộc thiểu số xứ Thanh thì: “Phải lấy văn hóa làm gốc, bởi việc tuyên truyền các chủ trương, đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước nếu lồng ghép với văn hóa thì mới có thể đi vào đời sống người dân”.

Thu Trang

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1