GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Đặc sắc những trò diễn dân gian

Đăng lúc: 22/05/2020 12:00 (GMT+7)

- Nhận xét về Thanh Hóa, Tiến sĩ người Pháp H.Le Breton cho rằng: “Thanh Hóa níu giữ và quyến luyến như mọi địa điểm nhiều kỷ niệm về quá khứ giàu truyền thống và vĩ đại...”. Bên cạnh, hơn 1.500 di sản vật thể gắn với những vương triều trong lịch sử dân tộc thì Thanh Hóa còn là vùng đất hội tụ của đầy đủ 7 loại hình di sản văn hóa phi vật thể: tập quán xã hội; nghề thủ công truyền thống, tri thức dân gian; tác phẩm văn học, nghệ thuật... đặc biệt là hệ thống lễ hội, trò diễn dân gian mang đặc trưng văn hóa, gửi gắm niềm tin tín ngưỡng, tâm linh và cả khát vọng của cha ông xưa trong hành trình sáng tạo.

Chuyện... Trò Chiềng

Năm 2017, lễ hội Trò Chiềng ở làng Trịnh Xá (Yên Ninh, Yên Định) được Bộ VH,TT&DL công nhận là Di sản Văn hóa phi vật thể Quốc gia. Đó thực sự là niềm vui với người dân quê hương Trịnh Xá. Điều đáng nói, lễ hội Trò Chiềng còn là câu chuyện về kế sách, ý chí mưu lược, tinh thần chống giặc ngoại xâm của cha ông xưa. Nếu đã một lần về hội Trò Chiềng, hẳn bạn vẫn chưa quên không khí “đánh trận” náo nhiệt của lễ hội nơi làng quê yên bình mỗi dịp đầu xuân.

Theo người dân địa phương, lễ hội Trò Chiềng khởi đầu với trò Chọi voi. Qua thời gian phát triển thành hệ thống 12 trò diễn: tẩu mã; cá chép hóa rồng; đốt pháo bông; rước Phụng Hoàn... Lễ hội mở đầu với trò Kén rể. Người dân Trịnh Xá xưa nay vẫn luôn tự hào con gái làng mình xinh đẹp, tài năng lại tháo vát, giỏi giang. Vì thế, việc tổ chức “Kén rể” sẽ giúp tìm ra những chàng trai xứng đáng với cô gái Trịnh Xá.

Vậy nhưng, hấp dẫn và náo nhiệt nhất của lễ hội Trò Chiềng phải kể đến Chọi voi và Cá chép hóa rồng vô cùng độc đáo. Theo đó, ở trò Chọi voi, những chú voi chọi (voi chầu) đã được người dân chuẩn bị chu đáo từ trước: thân voi được làm từ tre và mây, bên ngoài phủ bởi vải đa sắc nhiều màu, to lớn và trông như voi thật. Voi chiến mỗi bên sẽ được điều khiển bởi một vị trưởng lão có kinh nghiệm và sự giúp sức của những thanh niên lực lưỡng nhất. Khi tiếng “lệnh” phát ra, hai bên voi chiến sẽ xông vào nhau chiến đấu. Sau hai vòng đấu cam go, voi chiến nào đẩy lùi và đánh trúng chữ “Đích” trên đầu đối thủ sẽ giành chiến thắng; còn ở trò Cá chép hóa rồng, mỗi chú rồng sẽ được “thiết kế” đầu đuôi hình rồng, thân mình cá chép. Khi hai chú rồng “chọi” nhau, rồng chiến thắng là khi phần “cá chép” chui hẳn vào trong đầu rồng đối thủ, biểu trưng ý nghĩa cá chép hóa rồng. Và lễ hội Trò Chiềng của một năm sẽ khép lại với màn đốt pháo bông rực rỡ, cùng với đó những “voi chiến, cá chép, rồng...” cũng được hóa dưới sự chứng kiến của đông đảo người dân địa phương cùng du khách.

Người dân Trịnh Xá tin rằng, Trò Chiềng được sáng tạo bởi Thành hoàng Tam Quốc công Trịnh Quốc Bảo - một người con xuất chúng của vùng đất Trịnh Xá xưa kia. Với tài năng của mình, dưới vương triều Lý, ông lần lượt trải qua nhiều vị trí quan trường. Từ Hành khiển, Đại phu, Tổng binh rồi Thái bảo. Tên tuổi ông được nhắc đến nhiều nhất khi giúp vua Lý Thánh Tông đánh Tống ở phía Bắc, dẹp giặc Chiêm Thành quấy nhiễu ở phương Nam.

Truyền thuyết dân gian vẫn kể lại, trong một trận chiến với giặc Chiêm Thành vốn thiện chiến trong việc dùng tượng binh “voi chiến”, nếu dùng sức người sẽ là không địch nổi. Bởi vậy, để đánh lừa kẻ thù, Trịnh Quốc Bảo đã cho người làm hai đội tượng binh (voi giả) bằng tre và phết giấy bên ngoài nhằm đánh lừa kẻ thù. Hai đội tượng binh ngày đêm tập luyện cùng với kỵ binh và bộ binh, tạo thành đội quân tinh nhuệ. Khi giao chiến, đội tượng binh do tướng Trịnh Quốc Bảo với pháo hoa được bố trí ở vòi voi phát hỏa kèm theo tiếng nổ đinh tai bất ngờ khiến giặc Chiêm và đoàn tượng binh đang hùng dũng tiến vào trận chiến trở nên hoảng sợ rồi bỏ chạy. Quân ta trở về Thăng Long trong tiếng reo hò mừng thắng trận. Được biết, ngay tại kinh đô Thăng Long, trò Voi trận của tướng Trịnh Quốc Bảo một lần nữa đã được “biểu diễn” dưới sự chứng kiến, tán dương và khâm phục của Vua Lý cùng quần thần trên dưới trong triều đình.

Tuổi già, cáo quan về quê nhà Trịnh Xá sống cuộc đời thanh nhàn, vị đại quan triều Lý vẫn nhớ lại những năm tháng chiến trận oai hùng. Vì thế, ông đã tổ chức lại các trận đánh để diễn trò cho con cháu và nhân dân địa phương được biết. Từ đây, Trò Chiềng từng bước được lưu truyền, qua thời gian phát triển thành lễ hội, diễn ra vào dịp tháng Giêng hàng năm (từ mùng 10 đến 12) với nhiều mức độ khác nhau: đại trò (năm được mùa, tổ chức lớn với đầy đủ 12 trò); trung trò (tổ chức vừa) và tiểu trò (năm mất mùa, tổ chức nhỏ, chủ yếu là các nghi lễ để người dân nhớ về lễ hội). Trải qua thời gian gần cả nghìn năm, đến nay Trò Chiềng đã trở thành lễ hội văn hóa tín ngưỡng dân gian để người dân trong làng gửi gắm niềm tin, ước vọng may mắn, bình an cho khởi đầu một năm mới.

Với những đóng góp của mình, tướng Trịnh Quốc Bảo được nhà vua trọng thưởng rất hậu, đồng thời phong ông là Đông Phương Hắc Quang Đại Vương. Và sau đó, ông cũng được phong là Phúc thần làng Trịnh Xá, được người dân suy tôn là Thành hoàng làng. Mỗi năm đến hội Trò Chiềng, vị đại quan triều Lý lại được hậu thế nhắc đến với ngưỡng vọng và biết ơn.

 Trò diễn Xuân Phả.JPG

Trò diễn Xuân Phả với những yếu tố cung đình xưa kia đã được dân gian hóa, là niềm tự hào của văn hóa xứ Thanh.

Và những trò diễn chốn cung đình được... dân gian hóa

Trong hệ thống các di sản văn hóa phi vật thể quốc gia của xứ Thanh đến thời điểm hiện tại đã được công nhận thì trò diễn Xuân Phả được biết đến là Di sản phi vật thể Quốc gia đầu tiên được đưa vào danh mục. Đây có lẽ cũng là một trong số những trò diễn may mắn khi thường xuyên được biểu diễn trong những sự kiện, lễ hội lớn của cả nước và xứ Thanh: Festival Huế, kỷ niệm 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội, lễ hội Lam Kinh...

Trò diễn Xuân Phả độc đáo với tiểu trò: Hoa Lang (Hà Lan); Tú Huần (Lục Hồn Nhung); Ai Lao; Ngô Quốc và Chiêm Thành (Xiêm Thành). Ở đó, có ba tiểu trò Hoa Lang, Tú Huần và Xiêm Thành, người nghệ nhân biểu diễn sẽ đeo mặt nạ. “Đặc trưng ở trò Xuân Phả là các “vũ công” nam có những động tác phóng khoáng, tay chân mở rộng, khỏe, thể hiện “trong nhu có cương, trong cương có nhu” với nhiều động tác múa, tuyến múa, đội hình múa làm tôn nên sắc thái văn hóa lúa nước, vẻ duyên dáng, tinh tế, kín đáo nhưng cũng rất mạnh mẽ của người Việt”. Trong đó, ở ba trò Hoa Lang, Tú Huần và Xiêm Thành, người nghệ nhân biểu diễn sẽ đeo mặt nạ, hóa trang rất khó nhận ra. Có lẽ vậy mà một số nhà nghiên cứu cho rằng, trò diễn Xuân Phả có nét tương đồng như “lễ hội hóa trang” của người phương Tây. Tuy nhiên, yếu tố cung đình và dân gian Việt trong từng điệu múa Xuân Phả lại là điều không thể phủ nhận.

Đến nay, chưa có một khẳng định chắc chắn về nguồn gốc của trò diễn Xuân Phả, tuy nhiên nhiều ý kiến cho rằng, trò Xuân Phả xuất hiện từ thời nhà Đinh, sau khi Đinh Bộ Lĩnh dẹp loạn 12 sứ quân. Và nó gắn liền với truyền thuyết mà người dân của quê hương Xuân Phả vẫn nhắc đến: Vào thời vua Đinh, đất nước đứng trước nạn ngoại xâm, nhà vua sai sứ giả đi khắp nơi cầu người hiền tài. Khi đến bờ sông Chu thì bỗng giông tố nổi lên khiến sứ giả phải vào nghè Xuân Phả (xã Xuân Trường) trú ẩn. Đêm ấy, Thành hoàng làng đã hiển linh báo mộng cho sứ giả về cách phá giặc. Tỉnh dậy, sứ giả liền trở về kinh tâu lại với Vua Đinh. Nghe thấy kế hay nên nhà vua đã làm theo và quả nhiên giành thắng lợi vang dội. Nhớ ơn Thành hoàng làng, Vua Đinh đã phong tước Đại Hải Long Vương, đồng thời ban thưởng cho người dân Xuân Phả 5 điệu múa trò cung đình để hàng năm dâng lên Thành hoàng làng. Và đó cũng là lí do vì sao, trò diễn Xuân Phả tự xưa vẫn thường chỉ được biểu diễn chốn cung đình và đình làng Xuân Phả.

Tuy vậy, lại có ý kiến cho rằng, trò Xuân Phả xuất hiện vào thời Lê, sau khi Bình Định Vương Lê Lợi lãnh đạo khởi nghĩa Lam Sơn thành công, lập ra vương triều Hậu Lê. Trò diễn Xuân Phả được các quan bộ Lễ sáng tạo ra để thể hiện niềm vui, sự chúc mừng của các quốc gia lân cận đến hoàng đế Đại Việt. Và điều này được liên hệ với nguồn gốc của di sản dân ca dân vũ Đông Anh (Ngũ trò Viên Khê).

Theo đó, trong hệ thống các tích trò của dân ca Đông Anh có trò ngũ quốc (cũng gồm 5 trò: Chiêm Thành, Hoa Lang, Lục Hồn Nhung, Ngô Quốc, Ai Lao). Đây được xem là lễ nhạc của vương triều Hậu Lê. Và hai vị quan Trịnh Quý Thuật (người Xuân Phả) và Nguyễn Mộng Tuân (người Viên Khê - Đông Anh ngày nay) sau khi trở lại quê nhà đã truyền dạy cho người dân địa phương.

Việc truy tìm nguồn gốc thực sự của di sản trò diễn Xuân Phả hay dân ca Đông Anh là câu chuyện của các nhà nghiên cứu có trách nhiệm. Còn với người dân, những người yêu văn hóa, điều mà chúng ta quan tâm chính là việc kế thừa, bảo tồn, lưu giữ những tinh hoa văn hóa, giá trị trao truyền đã được cha ông chắt lọc, sáng tạo qua biết bao thế hệ.

Thu Trang

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1