GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Công cuộc mở cõi phương Nam

Đăng lúc: 07/07/2020 13:00 (GMT+7)

- Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, mở mang lãnh thổ luôn là một xu thế tất yếu được diễn ra tương đối sớm. Liên quan đến hành trình mở cõi về phương Nam của người Thanh Hóa cũng là của dân tộc bắt đầu từ anh hùng dân tộc Lê Hoàn trong cuộc bình Chiêm năm 982 nhằm bảo vệ vững chắc biên cương của Tổ quốc.

Vào các thế kỷ sau với hàng loạt các sự kiện diễn ra vào năm 1069, 1306, 1312, 1402 dưới thời Trần, Hồ, gắn với việc mở mang lãnh thổ bằng cả các biện pháp quân sự cũng như ngoại giao thông qua việc hôn thú. Công cuộc mở cõi được đẩy mạnh một bước, nhất là sau cuộc viễn chinh của Lê Thánh Tông vào năm 1470 - 1471.

Đến đầu thế kỷ XVI, Đại Việt có những biến đổi quan trọng, tình hình đã diễn biến theo một chiều hướng khác hẳn, có tác động rõ ràng đến hành trình mở cõi phương Nam của người Thanh Hóa. Lịch sử cho thấy, từ sau công cuộc bình Chiêm năm 1471, cương vực của quốc gia Đại Việt vươn sâu vào đến núi Thạch Bi (Phú Yên), nhưng trên thực tế, đây vẫn chỉ là vùng đệm, vùng tranh chấp giữa Đại Việt với Chiêm Thành. Trong cuộc nội chiến Nam - Bắc triều, hai xứ Thuận Quảng có vị trí hết sức quan trọng quyết định sự thành bại tới sự nghiệp trung hưng nhà Lê. Cho đến trước năm 1558, phạm vi quản lý của chính quyền Lê - Trịnh chủ yếu từ Thanh - Nghệ trở vào, vùng Thuận Quảng tuy nhà Lê đã chiếm được nhưng thế lực của nhà Mạc vẫn còn hoạt động mạnh mẽ. Đây không chỉ là phên dậu bảo vệ phía nam Thanh - Nghệ mà còn là hậu phương vững chắc của triều đình Lê - Trịnh. Gánh vác trọng trách trấn thủ miền đất này cần tới một người có bản lĩnh, có mưu lược, được quân sĩ đồng lòng hợp sức. Nguyễn Hoàng (1525 - 1613) xuất hiện, được coi là nhân vật đặc biệt của lịch sử Việt Nam trong giai đoạn cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII. Ông là người đặt nền móng cho cơ nghiệp của dòng họ Nguyễn ở đất phương Nam và cho sự hình thành vùng đất Đàng Trong. Dưới thời cai trị của Nguyễn Hoàng, nền chính trị, kinh tế của Thuận Quảng đã có những biến đổi sâu sắc. Ông là người khơi thông hệ thống thương mại ở miền Trung, góp phần đưa nước ta hội nhập vào nền thương mại quốc tế phát triển cực kỳ sôi động lúc bấy giờ. Đánh giá về con người và sự nghiệp của Nguyễn Hoàng, trong kết luận hội thảo khoa học “Quảng Trị - Đất dựng nghiệp của chúa Nguyễn Hoàng (1558 - 1613)” giáo sư Phan Huy Lê đã khẳng định: “Ông xứng đáng được tôn vinh là anh hùng mở cõi, danh nhân văn hóa lớn của dân tộc”.

 Đình làng Gia Miêu.JPG

Đình làng Gia Miêu, xã Hà Long, huyện Hà Trung nơi phát tích của các đời chúa Nguyễn.

Nguyễn Hoàng quê tại Gia Miêu ngoại trang huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, xứ Thanh Hóa (nay là xã Hà Long, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa). Ông sinh ngày Bính Dần tháng 8 năm Ất Dậu (1525), là con trai thứ hai của Nguyễn Kim và bà Nguyễn Thị Mai. Đây là một dòng họ danh tiếng có nhiều đóng góp cho lịch sử trong nhiều thế kỷ. Theo Nguyễn Phúc tộc phả, lúc Nguyễn Hoàng lên 2 tuổi, thái sư Nguyễn Kim đã sang Sầm Nưa khôi phục nhà Lê và ông được Thái phó Nguyễn Ư Dĩ (cậu ruột) nuôi dạy. Năm 1545, sau cái chết của Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm là anh rể Nguyễn Hoàng dần dần thâu tóm quyền hành của Nam triều về tay mình. Nguyễn Hoàng theo phò Vua Lê lập được nhiều công trong chiến tranh Trịnh- Mạc được Vua Lê Trung Tông khen ban tước Đoạn Quận công. Năm 1558, Nguyễn Hoàng xin được vào trấn thủ Thuận Hóa, được Trịnh Kiểm đồng ý, Vua Lê chuẩn y.

Có thể nhận ra rằng, đất Thuận Hóa lúc Nguyễn Hoàng vào đang là vùng đất hiểm nghèo, xa xôi và sự quản lý của nhà Lê hãy còn lỏng lẻo. Toàn xứ thời bấy giờ bao gồm 2 phủ: phủ Triệu Phong, gồm 6 huyện: Hải Lăng, Kim Trà, Võ Xương, Đan Điền, Tư Vinh và Điện Bàn. Phủ Tân Bình gồm 2 huyện và 2 châu: huyện Khang Lộc, huyện Lệ Thủy, châu Minh Linh và châu Bố Chánh. Tình hình kinh tế - xã hội của Thuận Hóa lúc này rất phức tạp. Tuy đã thuộc đất đai của Đại Việt hơn 250 năm nhưng đây vẫn được xem là vùng biên viễn, nền kinh tế lạc hậu.

Vào trấn thủ miền đất khó khăn này, Nguyễn Hoàng đã được vua Lê giao “hết thảy các việc to nhỏ ở địa phương được tùy nghi định đoạt”. Ông thực hiện chính sách hết sức khôn khéo: “Vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, sưu thuế nhẹ nhàng”. Với tài năng và đức độ của mình, Nguyễn Hoàng đã tập hợp thành công nhiều thành phần xã hội phức tạp, quy tụ quanh ông còn có nhiều nhân vật kiệt xuất, xuất thân từ nhiều thành phần khác nhau. Đây là nhân tố hết sức quan trọng để chính quyền Nguyễn Hoàng vững vàng và đạt được nhiều thành công trên vùng đất mới.

Từ những thành công bước đầu, uy tín của Nguyễn Hoàng đối với chính quyền Lê - Trịnh lên rất cao. Tháng 9 năm Kỷ Tỵ (1569), ông ra Thanh Hóa yết kiến Vua Lê ở hành cung Yên Trường được Vua Lê cho kiêm lãnh chức trấn thủ Quảng Nam. Đến năm 1570, Nguyễn Hoàng được cử làm Tổng trấn tướng quân kiêm quản cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam. Khi được giao cai quản hai xứ, Nguyễn Hoàng đã kiên quyết trấn áp bạo loạn, đánh tan mọi thế lực xâm lấn giữ yên cho vùng đất này.

Những năm tháng ở Thuận Quảng, tuy được vua cho toàn quyền quyết định, Nguyễn Hoàng vẫn duy trì bộ máy cai trị cũ của triều Lê nhưng đặt dưới bộ chỉ huy mang tính chất quân sự do ông đứng đầu. Đặc biệt, những vị trí quan trọng trong quân đội, Nguyễn Hoàng đều sử dụng người bản bộ Tống Sơn (Thanh Hóa) với nhiều chế độ biệt đãi. Đây là đội ngũ những người trung thành và quyết tâm theo ông vào Nam dựng nghiệp. Chính sách này vẫn được các đời chúa Nguyễn về sau kế tục nhằm đảm bảo xây dựng một quân đội luôn trung thành với chúa Nguyễn.

Cho đến năm 1600, Nguyễn Hoàng mới thực sự bắt tay vào xây dựng Đàng Trong thành giang sơn riêng cho họ Nguyễn, tách dần ảnh hưởng của Vua Lê ở Đàng Ngoài. Vấn đề đặt ra cho ông lúc này là tích cực khai hoang mở đất, có đường lối thật mềm dẻo với các thế lực trong vùng và ra sức chiêu hiền đãi sĩ, thu nạp người dân chạy nạn. Để đảm bảo vững chắc việc phòng thủ vùng đất mới được mở mang, khai phá, cũng như mở mang cơ nghiệp, ông đã tổ chức được một đội quân hùng mạnh cả thủy lẫn bộ. Ông chỉ huy quân đội đánh đuổi tàu Tây Ban Nha, tàu Tây Phương, đuổi quân Chăm Pa quấy phá vùng Thuận Quảng vào năm 1611. Nguyễn Hoàng cũng hết sức quan tâm đến mở mang văn hoá. Ông đã cho xây dựng nhiều chùa chiền như chùa Long Hưng (Duy Xuyên), Bảo Châu (Trà Kiệu), Kính Thiên (Quảng Bình). Đặc biệt, chùa Thiên Mụ được ông cho xây dựng trong thời gian trấn thủ ở đây đã trở thành ngôi chùa cổ kính của Thừa Thiên - Huế, được Vua Thiệu Trị xếp vào hàng thứ 14 trong 20 cảnh đẹp của Huế xưa. Giáo lý đạo phật được hoằng pháp đã quy tụ lòng người vào công cuộc mở cõi là một thành công lớn của Nguyễn Hoàng trong giai đoạn này.

Đóng góp của người Thanh Hóa trong công cuộc mở đất phương Nam sau Nguyễn Hoàng phải kể tới người con thứ sáu của ông là Nguyễn Phúc Nguyên (1562 - 1635) được gọi là chúa Sãi. Công lao, sự nghiệp của chúa Nguyễn Phúc Nguyên đã được lịch sử ghi nhận, nhân dân Thuận Quảng hết lời ca ngợi Nguyễn Phúc Nguyên là vị tướng tài, từng được giao trấn trị Quảng Nam, nên bộ máy hành chính ở đây đều do ông nắm giữ. Năm 1585, khi mới 23 tuổi, ông đã lập chiến công, chỉ huy thủy quân đánh thắng 5 chiếc tàu của Hiển Quý (tàu Nhật Bản có trang bị vũ khí) đến quấy phá Cửa Việt. Nguyễn Phúc Nguyên không chỉ là một tài năng quân sự, ông còn đặc biệt phát triển kinh tế, xây dựng Hội An thành một cảng thị sầm uất, tàu thuyền ngoại quốc đến buôn bán tấp nập, nhất là các tàu buôn Trung Hoa, Nhật Bản. Ngoại thương phát triển, kéo theo nội thương mở rộng giữa các vùng miền, tạo nên một Đàng Trong khá thịnh vượng.

Phải nhấn mạnh rằng, sau khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Quảng, đã tạo nên một luồng di dân lớn về phía Nam. Điều này được minh chứng bởi rất nhiều gia phả của các dòng họ.

Từ nửa sau thế kỷ XVII trở đi, Quảng Nam đã trở thành một dinh lớn, thế lực mạnh để chúa Nguyễn thoát ly khỏi ảnh hưởng của Vua Lê, chúa Trịnh và không ngừng mở rộng lãnh thổ về phương Nam. Lịch sử cho thấy, tháng 8 năm 1689, chúa Nguyễn Phúc Trăn sai Cai cơ Nguyễn Hữu Hào, là con trưởng Nguyễn Hữu Dật, cháu nội Nguyễn Triều Văn, quê ở huyện Tống Sơn (Hà Trung), là Tham tướng, theo Nguyễn Hoàng vào Nam năm 1558 đi đánh Chân Lạp. Nguyễn Hữu Hào buộc quốc vương Chân Lạp phải chịu làm phiên thần, hằng năm nộp thuế liễm đầy đủ. Công trạng của ông sau này được Gia Long xếp hạng công thần bậc nhì.

Đáng chú ý nhất trong giai đoạn này là chúa Nguyễn Phúc Chu cho đặt phủ Gia Định vào năm 1698. Nguyễn Hữu Cảnh quê gốc ở Gia Miêu ngoại trang được cử đi kinh lược vùng đất phía Nam sau này. Ông lấy đất Nông Nại đặt làm phủ Gia Định, đặt xứ Đồng Bai làm phủ Phước Long, dựng dinh Trấn Biên (tức Biên Hòa) lấy xứ Sài Côn (Sài Gòn) làm huyện Tân Bình. Ông có công mở đất đai nghìn dặm, với số dân hơn 4 vạn hộ... đặt các xã, thôn, phường, ấp, chia cắt bộ phận, trưng chiếm ruộng đất, chuẩn định số  điền, số đinh, làm sổ đinh, sổ điền. Vậy là, từ năm 1698, chúa Nguyễn đã chính thức hoạch định vùng đất Sài Gòn- Gia Định vào bản đồ của xứ Đàng Trong, bộ máy hành chính được sắp đặt xuống tận thôn, xã. Cũng từ sự kiện này, quan hệ giữa chúa Nguyễn với Chân Lạp ở Đàng Trong trở nên hết sức căng thẳng. Tháng 7 năm 1699, Nặc Thu phản lại chúa Nguyễn, đắp các lũy Bích Đôi, Nam Vang... và cướp bóc dân buôn. Nguyễn Hữu Cảnh được giao thống suất lực lượng đi đánh Chân Lạp. Nặc Thu chống cự không nổi, phải bỏ thành tháo chạy, sau ra hàng, xin được cống nộp như cũ.

Năm 1757, sau khi giúp Chân Lạp giải quyết mối xung đột nội bộ, vua Chân Lạp đã dâng đất Tầm Phong Long (Đồng Tháp Mười) để trả ơn chúa Nguyễn. Tiếp theo dựng đặt các đạo Đông Khẩu ở Sa Đéc, Tân Châu ở Tiền Giang, Châu Đốc ở Hậu Giang. Vua Chân Lạp lại xin cắt thêm 5 phủ cho chúa Nguyễn và Nguyễn Phúc Khoát cho 5 phủ ấy lệ vào quản hạt Hà Tiên.

Như vậy, công cuộc mở cõi phương Nam thời các chúa Nguyễn đã ghi dấu công lao to lớn của Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn là đã đẩy nhanh quá trình này và hoàn chỉnh giai đoạn cuối cùng. Theo giáo sư Phan Huy Lê thì “Chính Nguyễn Hoàng và các chúa Nguyễn từ năm 1611, đến năm 1757 đã vẽ xong phần cuối để hoàn thành toàn bộ bản đồ lãnh thổ quốc gia. Trong thời gian ngắn mà làm được một việc như vậy là cực kỳ lớn lao, vĩ đại".

Vậy là, trải qua hơn hai thế kỷ từ 1558 đến 1777, với 9 đời chúa, từ Thái tổ Nguyễn Hoàng, đến Duệ Tông Nguyễn Phúc Thuần, công cuộc mở cõi - một kỳ tích vĩ đại của dân tộc ta đã hoàn tất. Đến năm 1757, về cơ bản các chúa Nguyễn đã là chủ nhân của toàn bộ vùng đất Nam Trung bộ và Nam bộ, cùng các đảo lớn như Côn Đảo, Phú Quốc, Hoàng Sa, Trường Sa, để vương triều Nguyễn tiếp tục củng cố, quản lý, khai thác, khẳng định chủ quyền dân tộc ngày càng thiết thực và hiệu quả. Trong kỳ tích đó, các thế hệ người Thanh Hóa không nghi ngờ gì nữa đã chiếm giữ một vị trí đặc biệt to lớn, mãi được nhân dân tôn vinh, lịch sử ghi nhớ.

TS. Lê Ngọc Tạo

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1