GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Mường (Bài 1): Sức sống mãnh liệt, lâu bền của văn hóa dân tộc Mường

Đăng lúc: 05/12/2020 08:00 (GMT+7)

- Việt Nam có 54 dân tộc, mỗi dân tộc mang bản sắc văn hóa riêng, được tiếp biến, bồi đắp qua hàng ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước, tạo nên những giá trị trường tồn. Trong đó, dân tộc Mường có dân số gần 1,5 triệu người, với những phong tục, tập quán giản dị, mộc mạc, góp phần định vị nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Trong bối cảnh có nhiều thách thức với văn hóa truyền thống như hiện nay, việc gìn giữ, phát huy giá trị bản sắc văn hóa dân tộc Mường đang trở nên cấp thiết, và không chỉ riêng với mỗi người con xứ Mường mà còn là trách nhiệm chung của cộng đồng.

Trong nền văn hóa chung của đất nước, mỗi dân tộc đều có bản sắc văn hóa riêng, được hun đúc từ cuộc sống, lao động, tình cảm cộng đồng của con người. Người Mường mang trong mình một sức sống mạnh mẽ, lâu bền với bản sắc văn hóa vô cùng mộc mạc, giản dị nhưng không kém phần đặc sắc và ấn tượng, góp phần làm nên truyền thống văn hóa đa dạng cho đất nước Việt Nam.

Dân tộc Mường còn có tên gọi là Mol, Mual, Moi. Dân tộc Mường nói tiếng Mường, ngôn ngữ thuộc nhóm Việt - Mường trong ngữ chi Việt thuộc ngữ tộc Môn-Khmer của ngữ hệ Nam Á. Người Mường ở Việt Nam cư trú trên một địa bàn khá rộng: Thanh Hóa, Hòa Bình, Ninh Bình, Nghệ An, Phú Thọ, Sơn La, Yên Bái, Hà Tây, Nghĩa Lộ với chiều dài ước chừng 350km từ Tây Bắc Yên Bái đến Tây Bắc Nghệ An, chiều rộng gần 100km. Hiện nay người Mường đã đến sinh sống ở các tỉnh phía Nam như: Đắc Lắc, Đồng Nai, Bình Phước... Người Mường ở đâu thì văn hóa Mường tỏa ra đến đấy.

Dân tộc Mường ở Thanh Hoá gồm hai bộ phận: Mường Trong (Mường gốc) và Mường Ngoài (người Mường di cư từ Hoà Bình vào), hiện có gần 400.000 người, chiếm gần 60% các dân tộc thiểu số trong tỉnh, sống tập trung ở các huyện Ngọc Lặc, Thạch Thành, Bá Thước, Cẩm Thủy. Ngoài ra người Mường cư trú rải rác xen kẽ với người Kinh, người Thái ở các huyện: Lang Chánh, Quan Hóa, Thường Xuân, Như Thanh, Như Xuân và một số xã miền núi giáp ranh các huyện: Triệu Sơn, Thọ Xuân, Yên Định, Hà Trung, Vĩnh Lộc, TX Nghi Sơn. Gần đây những di vật khảo cổ thu được ở các di chỉ văn hóa ở vùng Mường Ai (Bá Thước), Mường Yến, Mường Lập (Ngọc Lặc), hang Con Moong (Thạch Thành), hang Trống (Cẩm Thủy) càng chứng minh thêm từ lâu ở vùng Mường đã có con người sinh sống. Dẫu người Mường sinh tụ ở nhiều vùng khác nhau, Mường Trong hay Mường Ngoài, nhưng có nền văn hóa vật chất, tinh thần ổn định nhất. Về ngôn ngữ, tuy có những phát âm khác nhau, song có hệ thống từ vựng, ngữ pháp phát âm giống nhau, nên người Mường các vùng khi giao tiếp đều hiểu tiếng nói của nhau.

Đồng bào Mường sống định canh định cư ở các vùng núi thấp. Nơi có nhiều đất sản xuất và gần đường giao thông thuận lợi cho việc làm ăn. Nguồn sống chủ yếu là sản xuất thâm canh cây lúa nước, kết hợp nương rẫy và phát triển chăn nuôi. Trước đây đồng bào trồng lúa nếp nhiều hơn lúa tẻ và gạo nếp là lương thực ăn hằng ngày. Nguồn kinh tế phụ của các hộ gia đình người Mường là khai thác lâm thổ sản như: gỗ, tre, nứa, mây, song... cùng với nghề thủ công ươm tơ dệt vải, đan lát. Do có nguồn gốc từ xa xưa, và có số dân đông đúc nên người Mường Thanh Hoá có đời sống văn hoá tinh thần khá phong phú, nhiều lễ tục, lễ hội truyền thống, các trò chơi dân gian được đồng bào gìn giữ, bảo tồn.

Đặc biệt, tuy không có chữ viết riêng, song người Mường Thanh Hoá có kho tàng văn nghệ dân gian rất đặc sắc, với truyện dân gian, tục ngữ, thơ ca dân gian, các bản tình ca ngọt ngào mà nhiều người đã biết đến. Trong đó phải nhắc đến sử thi “Đẻ đất, đẻ nước” (Té tấc, té đạc) - bản hùng ca huyền thoại của người Mường thể hiện sức mạnh hào hùng, anh dũng của dân tộc Mường, cho đến các thể loại thơ ca tục ngữ, truyện dân gian như Nàng Nga - Hai Mối; Út Lót - Hồi Liêu; hát ru em, hát đố, đồng dao, hát xường, hát đúm, bộ mẹng, sáo ôi, lạc thổ, múa tung còn, chèo ma, phường bùa, cồng chiêng, pôồn pôông...

Bên cạnh đó, còn có loại dân ca nghi lễ, tiêu biểu cho thể loại này là hệ thống Mo. Đây là loại ca cổ nhất, mang nhiều giá trị về dân tộc học, ngôn ngữ học và văn học, chứa đựng đời sống tâm linh của nhân dân. Khác với các loại dân ca xường, rang, bộ mẹng, hát đúm... người dân nào cũng có thể sử dụng trong các buổi hát giao duyên đối đáp nam nữ thì các bài ca nghi lễ mang tính tâm linh lại gắn với các nghi lễ dân gian nhân văn cao cả qua Mo Mường.

 Tiếng cồng, tiếng chiêng có mặt trong mọi mặt đời sống của cộng đồng dân tộc Mường.jpg

Tiếng cồng, tiếng chiêng có mặt trong mọi mặt đời sống của cộng đồng dân tộc Mường. (Ảnh: T.L)

Cùng với đó, người Mường còn có những lễ hội đặc sắc gắn với tiếng cồng, tiếng chiêng vang vọng, đánh thức núi rừng. Tiếng cồng, tiếng chiêng có mặt trong mọi mặt của đời sống, vang lên khi một đứa trẻ người Mường sinh ra, khi có người Mường mất... Văn hóa cồng chiêng đã được sáng tạo, lưu truyền trong đời sống cộng đồng người Mường hàng nghìn năm, góp phần quan trọng làm nên bản sắc văn hóa của dân tộc Mường.

Trong số lễ hội tiêu biểu của dân tộc Mường Thanh Hóa, phải nhắc đến lễ hội Pồôn Pôông, vừa ấn tượng, sâu sắc, vừa phản ánh được tổng hoà các nét văn hoá đầy tính triết lý của cuộc sống. Bởi lẽ xung quanh cây hoa Pồôn Pôông, thông qua các làn điệu xường rang, xéc bùa và múa, diễn xướng - những ước mơ mùa màng bội thu, bản mường no ấm và những lời cầu chúc tâm tình, hẹn ước vui tươi hạnh phúc được toả hương ngát mãi những mùa xuân. Năm 2017, Lễ hội Pồôn Pôông Ngọc Lặc được công nhận Di sản Văn hóa phi vật thể quốc gia.

Cùng với đó, ở mỗi vùng miền còn có lễ hội đặc sắc như lễ hội khai hạ của người Mường Cẩm Thủy; lễ hội Mường Đủ, Mường Đòn (Thạch Thành); lễ hội Mường Khô (Bá Thước); lễ rước nước Bàn Bù (Ngọc Lặc)... Đến với lễ hội, người dân không chỉ tỏ lòng ngưỡng vọng đối với bậc anh hùng, người có công khai ấp, lập mường, cầu mong mùa màng bội thu mà còn được hòa mình vào trò chơi, trò diễn như tung còn, đẩy gậy, đánh mảng...

 Múa Pồôn Pôông.JPG

Múa Pồôn Pôông, nét văn hóa đặc sắc của đồng bào dân tộc Mường. (Ảnh: Ngọc Huấn)

Bên cạnh những lễ hội truyền thống, kho tàng văn nghệ dân gian đặc sắc, nét độc đáo làm nên văn hóa đặc trưng của người Mường còn thể hiện qua trang phục, nhà ở, ẩm thực mang đậm giá trị truyền thống. Nhà ở phản ánh kinh nghiệm quá trình cư trú được ghi rõ trong lời Mo “Đẻ đất đẻ nước”. Cũng như nhiều tộc người khác buổi sơ khai phải sống trong các gốc cây hang núi. Chuyện xưa được người già kể lại: “Rùa đen” được ông lang Cun tha chết, rùa hứa giúp người Mường cách làm nhà ở, kho chứa lúa, chứa thịt. Mái nhà sàn của người Mường có hình mái rùa là thế. Ngôi nhà sàn dựng theo kiểu truyền thống của người Mường, vì được bố trí khéo léo nên không gian rất thoáng đãng và đặc biệt tiện lợi. Với đặc trưng như vậy, người Mường đã tạo nên cho mình một tập quán riêng trong sinh hoạt hàng ngày, lao động sản xuất, vừa trồng lúa, làm nương rẫy, vừa chăn nuôi gia súc gia cầm. Nhà sàn của người Mường ngoài công năng để ở và cất trữ tài sản, phòng tránh thú dữ, rắn, rết và phù hợp với điều kiện khí hậu nóng ẩm ở vùng núi, còn là nơi giữ gìn bản sắc văn hóa, giáo dục các thành viên trong gia đình.

Cũng như nhà ở, trang phục người Mường mang nét đặc trưng. Vào những dịp lễ, tết, ngày trọng đại như cưới xin, các bà, các mẹ, người con gái Mường vẫn mặc trên mình bộ trang phục truyền thống. Nam giới mặc áo xẻ ngực, cổ trần, hai túi dưới hoặc túi trên ngực trái. Nữ mặc yếm chui đầu, gấu lượn, khi mặc cho vào trong cạp váy và cao lên đến ngực. Trong dịp lễ tết, chiếc áo dài xẻ ngực thường không cài, khoác ngoài bộ trang phục hàng ngày vừa trang trọng vừa khoe được hoa văn cạp váy kín đáo bên trong.

Ẩm thực là một yếu tố quan trọng, không chỉ giúp gắn kết mọi người, mà còn góp phần tạo nên sự phong phú cho bản sắc văn hóa dân tộc Mường. Ẩm thực của đồng bào Mường Thanh Hóa độc đáo ngay từ nguyên liệu đến cách thức chế biến. Để tạo nên một món ăn mang đậm bản sắc, người Mường thường sử dụng các nguyên liệu có sẵn trong tự nhiên như măng rừng, rau rừng, lá tạo màu ngũ sắc, gà ri, vịt cỏ, gạo nếp. Nét độc đáo của ẩm thực xứ Mường còn thể hiện ở cách chế biến. Những món ăn thường được người Mường chú trọng nhất như món nướng, luộc, nấu canh. Một số món ăn tiêu biểu làm nên tên tuổi của ẩm thực xứ Mường đó chính là thịt luộc, măng chua nấu thịt gà, thịt trâu nấu lá lồm, cá nướng, cơm lam, canh đắng...

Có thể nói, mộc mạc và giản dị nhưng những giá trị văn hóa đặc sắc ấy đã được bao thế hệ người Mường gìn giữ, bảo tồn, tạo nên sức sống mãnh liệt, bền lâu trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam.

Ngọc Huấn - Thu Thủy

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1