GMT+7
Trang chủ / Dân tộc - Miền núi

Thực trạng buồn ở các dự án, công trình nước sạch vùng cao

Đăng lúc: 25/08/2020 13:00 (GMT+7)

- Nhiều dự án nước sạch theo Chương trình 134, 135,... được đầu tư lên tới cả tỷ đồng mỗi công trình từng là “cứu cánh” giúp bà con vùng cao giải cơn khát nước sạch. Thế nhưng, nhìn vào thực tế, vì nhiều nguyên do, có khi là thiếu nguồn duy tu bảo dưỡng, chính quyền địa phương thiếu trách nhiệm,... nhiều công trình đã xuống cấp, thậm chí rơi vào quên lãng.

Thực tiễn, đối với những hộ dân sống ở khu vực miền núi, thì nguồn nước chủ lực là nước khe suối và nước mưa. Tuy nhiên, không phải thôn, bản, vùng miền nào cũng thuận lợi thụ hưởng những điều đó. Ở nhiều nơi, người dân phải lay lắt đi xin nước, hoặc thậm chí phải cuốc bộ hàng cây số để đi lấy nước từ trên mó, suối về sử dụng. Trước những thực trạng trên, nhiều giai đoạn, thời kỳ các dự án nước sạch vùng cao thuộc các Chương trình 134, 135 và nông thôn mới đã được đầu tư triển khai. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, đến nay các dự án, công trình này gần như kém phát huy hiệu quả, thậm chí không ít trong số các công trình đầu tư hoành tráng nhưng lại bỏ hoang, rơi vào quên lãng đầy xót xa.

 Công trình nước sạch tập trung tại bản Oi, thị trấn Lang Chánh bỏ hoang nhiều năm nay không thể sử dụng.jpg

Công trình nước sạch tập trung tại bản Oi, thị trấn Lang Chánh bỏ hoang nhiều năm nay không thể sử dụng.

Công trình nước sạch tập trung tại bản Oi (thị trấn Lang Chánh, huyện Lang Chánh) là một ví dụ. Được đầu tư xây dựng năm 2012 với số tiền lên tới cả tỷ đồng nhưng lâu nay bỏ hoang, xuống cấp không thể sử dụng. Theo quan sát, công trình được đầu tư gồm một bể chứa tổng và 8 bể chứa phụ dẫn tới các cụm dân cư. Thời gian đầu đưa vào sử dụng phát huy hiệu quả. Người dân đã không còn phải khoan giếng, đào bới tiêu tốn kinh tế mà không có nước. Không còn cảnh bà con phải lên mó, lên suối đi cõng từng thùng nước về chắt chiu sử dụng qua ngày. Cũng không còn cảnh phải đi xin nước mỗi mùa nắng hạn...

Bà Phạm Thị Vân - Bí thư chi bộ, Trưởng bản Oi, hồ hởi: "Tôi nhớ rõ năm đó, khoảng 2012 sau nhiều năm người dân lay lắt với việc thiếu nguồn nước sử dụng kiến nghị, Nhà nước đã đầu tư một công trình cấp nước sinh hoạt quy mô, ai cũng phấn khởi. Tuy nhiên, niềm vui, sự tiện ích đó chẳng tày gang. Sử dụng được thời gian thì nguồn nước trên mó vơi dần, bà con phải lên đắp đập, quây lại mó để có nước dẫn về. Tu sửa, được 2 lần thì người dân, chính quyền phải bỏ mặc. Lý do đơn giản, trên mó không còn nước để dẫn về. Cũng phải 5 hay 6 năm nay rồi, bà con trở về thời kỳ trước những năm 2012, lay lắt vì thiếu nước sạch".

Cũng theo bà Vân, sở dĩ nguồn nước trên mó không còn là do người dân phát hoang, trồng keo. Ngày trước, thảm bì thực vật tự nhiên của núi, của rừng tích được nước nhưng phá bỏ trồng keo ồ ạt nên mới dẫn đến tình trạng suối, mó nước khô khan, cạn kiệt. Công trình không sử dụng, qua vài năm thì một số đối tượng còn phá bỏ lấy cắp đường ống. Công trình cấp nước từ bể tổng dẫn về 8 bể chứa thì bị dự án làm đường (từ thị trấn đi xã Tân Phúc) chạy qua làm hư hỏng đường ống và ảnh hưởng đến công trình bể phụ của bà con.

Từ những nguyên nhân trên, đến bây giờ bà con muốn kiến nghị tu sửa, nâng cấp hoặc tìm giải pháp để dẫn nước về bản gần như là không thể. Dự án làm đường qua gây hư hỏng đường ống cũng không thấy bồi hoàn hay có hướng khắc phục gì? Bà Vân lấy một đoạn ống nước bị máy móc công trình làm hư hỏng đưa chúng tôi xem mà xót xa.

Câu hỏi trên được ông Phạm Hùng Sâm - Giám đốc Ban dự án đầu tư xây dựng huyện Lang Chánh trả lời bằng thái độ bỡ ngỡ, và vừa hay biết dự án do Ban quản lý làm hư hỏng, ảnh hưởng tới một dự án an sinh khác. Ông Sâm khẳng định, sẽ báo cáo lại Chủ tịch UBND huyện xin ý kiến.

Oái oăm thay, khi phóng viên đặt lịch làm việc với các phòng ban chuyên môn khác của huyện này như Phòng NN&PTNT, phòng Dân tộc, thì câu trả lời là sự thoái thác, đùn đẩy trách nhiệm? Ông Nguyễn Xuân Hồng - Chủ tịch UBND huyện Lang Chánh thì cho rằng, nguyên nhân chính khiến các công trình cấp nước sinh hoạt tập trung ở các địa phương miền núi kém phát huy hiệu quả là do nguồn nước cấp không được duy trì. Ví như bản Oi, nguồn nước từ mó không có nên công trình bỏ hoang nhiều năm nay... Bên cạnh đó, công tác quản lý, duy tu, bảo dưỡng công trình chưa được làm tốt. Các công trình này đều được giao cho UBND xã quản lý, nhưng UBND xã lại giao cho trưởng thôn, bản quản lý, vận hành. Do người quản lý, vận hành không được đào tạo kỹ thuật, lại thiếu kinh phí để duy tu, bảo dưỡng, sửa chữa thường xuyên, nên các công trình nhanh chóng hư hỏng, xuống cấp.

Ngoài ra, việc khảo sát, lựa chọn vị trí đặt công trình và kiểm tra, giám sát thi công cũng còn nhiều bất cập, khiến nhiều công trình không đảm bảo chất lượng...

Theo số liệu khảo sát của Chi cục Thủy lợi tỉnh Thanh Hóa, toàn tỉnh hiện có 519 công trình cấp nước tập trung. Trong đó, có 489 công trình cấp nước tập trung tự chảy và 29 công trình cấp nước bằng động lực. Tuy nhiên, tỷ lệ các công trình cấp nước hoạt động hiệu quả bền vững chỉ có 5,6%; 94,4% số công trình cấp nước hiện tại đều hoạt động kém bền vững hoặc không hoạt động.

Sơn Đình

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1