VanHoaDoiSong

Giáo sư, Nhà giáo Đặng Thai Mai, bố vợ của 3 vị tướng

Nhân dịp Ngày Nhà giáo Việt Nam 20/11, tôi xin kể về một Nhà giáo, bậc tri thức hàng đầu của đất nước, đã cống hiến trọn cuộc đời và sự nghiệp cho cách mạng – Giáo sư, Nhà giáo Đặng Thai Mai (1902 – 1984). Ông là một nhà giáo, nhà khoa học, nhà chính trị, nhưng giới khoa học cùng độc giả trong nước và thế giới thường nhớ đến ông với tư cách một Giáo sư Văn học, một nhà nghiên cứu xuất sắc của Việt Nam ở thế kỷ XX, chứ không phải vì ông từng là một chính khách.

Đặng Thai Mai sinh ra trong một gia đình có truyền thống hiếu học và yêu nước ở làng Lương Điền (nay là Thanh Xuân), huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An. Ông nội đỗ cử nhân khai khoa, là một nhân sĩ yêu nước. Thân sinh là Đặng Nguyên Cẩn, đỗ Phó bảng, làm Đốc học, tham gia Duy tân hội của Phan Bội Châu, bạn thân của các bậc chí sĩ yêu nước như Phan Chu Trinh, Ngô Đức Kế, Huỳnh Thúc Kháng…

2.jpg
Chân dung Giáo sư, Nhà nghiên cứu, Nhà văn Đặng Thai Mai (1902 – 1984). ảnh tư liệu

Trong quá trình hoạt động cách mạng, Đặng Thai Mai tham gia và được phân công giữ nhiều trọng trách quan trọng trong các cơ quan nhà nước ngay từ những buổi đầu. Ông được cử vào Ủy ban dự thảo Hiến pháp do Bác Hồ làm Chủ tịch. Ông là đại biểu Quốc hội các khóa I, II, III, IV và V; Bộ trưởng Bộ Giáo dục trong Chính phủ Liên hiệp (1946-1947), Chủ tịch Ủy ban Kháng chiến tỉnh Thanh Hóa (1947-1948), Hội trưởng Hội Văn hóa Việt Nam (1948), Giám đốc Sở Giáo dục liên khu IV (1950-1953), Chủ nhiệm Văn khoa Đại học Sư phạm và Đại học Tổng hợp (1954-1960), Viện trưởng Viện Văn học (1959-1976), Chủ tịch Hội liên hiệp Văn học nghệ thuật Việt Nam (1957)… Trong suốt cuộc đời của mình, Đặng Thai Mai đã dành hết thời gian và công sức cho sự nghiệp khoa học và cách mạng của đất nước. Ông đã vinh dự được nhận Huân chương Hồ Chí Minh (1982), giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học – Nghệ thuật Việt Nam (đợt 1 – 1986)…

Khởi đầu Đặng Thai Mai không có ý định viết văn. Ông chỉ thực sự cầm bút do đòi hỏi bức xúc của xã hội và yêu cầu của nhiệm vụ tuyên truyền cho cách mạng. Trong cuộc đời cầm bút, ông đã cho xuất bản tới 14 cuốn sách. Hầu hết chúng đều thuộc dạng tác phẩm nghiên cứu và phổ biến tri thức như: Văn học khái luận; Triết học phổ thông; Tạp văn trong văn học Trung Quốc ngày nay; Giảng văn Chinh phụ ngâm; Chủ nghĩa nhân văn dưới thời kỳ văn hóa phục hưng; Lịch sử triết học phương Tây; Lịch sử văn học Trung Quốc; Văn thơ Phan Bội Châu và văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX…

Giáo sư, nhà nghiên cứu, nhà văn Đặng Thai Mai, không chỉ là một học giả uyên thâm, một trí thức yêu nước, một nhà giáo mẫu mực mà còn là người cha của sáu giáo sư, phó giáo sư, là người ông của hàng chục tiến sĩ, cử nhân.

Đặng Thai Mai lập gia đình năm 1926, vợ ông là bà Hồ Thị Toan (con gái cụ Hồ Phi Thống – một nhân sĩ yêu nước). Ông bà sinh hạ được 6 người con, gồm 5 gái và 1 trai, tất cả đều có học hàm cao: Phó giáo sư Sử học Đặng Bích Hà (sinh năm 1928); Phó giáo sư Văn học Pháp Đặng Thị Hạnh (sinh năm 1930); Nhà giáo Ưu tú, Giáo sư – Tiến sĩ Văn học Việt Nam Đặng Thanh Lê (sinh năm 1932); Phó giáo sư – Tiến sĩ Văn học phương Tây Đặng Anh Đào (sinh năm 1934); Nhà giáo Ưu tú, Phó giáo sư – Kiến trúc sư Đặng Thái Hoàng (sinh năm 1939) và Phó giáo sư – Tiến sĩ Sinh vật học Đặng Xuyến Như (sinh năm 1945).

Đặc biệt, ông còn là bố vợ của 3 vị tướng lừng danh: Đại tướng Võ Nguyên Giáp, Trung tướng Phạm Hồng Cư và Trung tướng Phạm Hồng Sơn.

30.jpg
Đại tướng Võ Nguyên Giáp (thứ ba, từ phải sang) và Trung tướng Phạm Hồng Cư (thứ hai, từ phải sang). Ảnh tư liệu

Đại tướng Võ Nguyên Giáp sinh năm 1911 (kém Đặng Thai Mai 9 tuổi), được phong hàm Đại tướng năm 1948. Trước khi có cuộc hôn nhân lịch sử, hai người vẫn coi nhau như bạn bè. Phần vì tuổi tác chẳng hơn kém nhau là mấy, phần vì họ cùng là Đảng viên Tân Việt, cùng bị Pháp bắt giam năm 1930, ra tù cùng sống bằng nghề dạy học. Năm 1935, hai người cùng với Phan Thanh, Hoàng Minh Giám… là sáng lập viên của Trường Tư thục Thăng Long nổi tiếng. Năm 1936 – 1939 lại cùng tham gia phong trào Mặt trận Dân chủ Đông Dương, cùng biên tập và viết báo tuyên truyền cho Đảng Cộng sản Đông Dương.

Sau Cách mạng Tháng Tám, họ đều được bầu làm Đại biểu Quốc hội khóa I. Cùng làm việc trong Chính phủ, Đặng Thai Mai được bổ nhiệm làm Bộ trưởng Bộ Giáo dục, còn Võ Nguyên Giáp là Bộ trưởng Bộ Nội vụ… Cũng trong thời gian ấy, sau mấy năm xa cách gặp lại Đặng Bích Hà (con gái đầu của giáo sư Đặng Thai Mai) đã lớn vổng lên thành một thiếu nữ xinh đẹp, một tình cảm – một tình yêu đẹp đã nảy nở giữa hai người. Đó không chỉ là một tình yêu nam nữ đơn thuần mà còn là sự đồng cảm của những tâm hồn cao đẹp, những nhân cách văn hóa. Do vậy, tình yêu của họ càng đẹp hơn khi đã được thử thách trong cách mạng và kháng chiến. Đám cưới của họ được tổ chức giản dị và trang trọng trước ngày cuộc kháng chiến chống pháp bùng nổ. Hồ Chủ Tịch đã đến dự và chia vui. Vợ chồng Võ Nguyên Giáp – Đặng Bích Hà sinh được bốn người con (2 trai, 2 gái), trong đó có nữ Tiến sĩ khoa học Vật lý Võ Hạnh Phúc.

Vị tướng rể thứ hai của giáo sư Đặng Thai Mai là Trung tướng Phạm Hồng Cư. Tên thực của ông là Lê Đỗ Nguyên, sinh năm 1926, quê ở Đông Cương, Đông Sơn, Thanh Hóa. Ông cũng chính là một trong 3 người anh của nhân vật nữ (Lê Đỗ Thị Ninh) trong bài Màu tím hoa sim nổi tiếng của nhà thơ Hữu Loan (Lê Đỗ Khôi, Lê Đỗ Nguyên và Lê Đỗ An). Phạm Hồng Cư nhập ngũ tháng 9/1945, được kết nạp vào Đảng năm 1947. Trưởng thành từ đội viên tự vệ chiến đấu cứu quốc Hoàng Diệu (Hà Nội), ông đã tham gia nhiều chiến dịch quan trọng của quân đội ta từ Chiến dịch Điện Biên Phủ đến Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử…

Năm 1954 sau chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ, Phạm Hồng Cư đã kết hôn với Đặng Thị Hạnh, con gái thứ hai của Giáo sư Đặng Thai Mai. Vợ chồng họ sinh được 2 con trai và 1 con gái, tất cả đều thành đạt. Những năm 1974 – 1978, Phạm Hồng Cư là cục trưởng Cục Văn hóa, Tổng cục Chính trị. Sau đó ông đảm nhiệm trọng trách Phó Chính ủy, rồi Phó Tư lệnh, kiêm Chủ nhiệm Chính trị Quân khu II cho tới ngày nghỉ hưu. Phạm Hồng Cư được phong hàm Trung tướng năm 1988.

Vị tướng rể thứ ba của giáo sư Đặng Thai Mai là Trung tướng Phạm Hồng Sơn. Ông tên thật là Phạm Thành Chính, sinh năm 1923, tại Hưng Khánh, Hưng Nguyên, Nghệ An, là cháu ruột của anh hùng – liệt sĩ Phạm Hồng Thái – người đã dũng cảm hy sinh khi mưu sát tên Toàn quyền Đông Dương tại Sa Diện (Trung Quốc). Phạm Hồng Sơn nhập ngũ năm 1945. Ông đã trực tiếp chỉ huy chiến đấu ở nhiều chiến trường. Trong kháng chiến chống Pháp ông từng giữ chức Trung đoàn trưởng Trung đoàn 36, Sư đoàn 308.

Năm 1954, Phạm Hồng Sơn kết hôn với Đặng Anh Đào, con gái thứ tư của giáo sư Đặng Thai Mai. Đám cưới của họ được tổ chức ở Thanh Hóa, trước ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc nước ta. Vợ chồng họ sinh được ba người con và cả ba đều tốt nghiệp ở Liên Xô.

Những năm 1955 – 1959, Phạm Hồng Sơn làm Tham mưu Trưởng Quân khu Hữu Ngạn, tiếp đó là Cục phó Cục Khoa học Quân sự, rồi Cục trưởng Cục Quân huấn thuộc Bộ Tổng Tham mưu. Năm 1967, ông được điều vào chiến trường miền Nam chỉ huy Chiến dịch Đường Chín – Nam Lào, rồi Phó Tư lệnh kiêm Tham mưu trưởng Mặt trận Tây Nguyên. Phạm Hồng Sơn còn được biết đến với tư cách là một nhà khoa học – Phó tiến sĩ khoa học quân sự. Những năm 1971 – 1975, ông đảm nhiệm trọng trách Phó Viện trưởng Viện Khoa học Quân sự, Phó Viện trưởng Học viện Quân sự cấp cao… Phạm hồng Sơn được phong hàm Trung tướng năm 1982.

Chỉ phác thảo qua vài nét như vậy thôi, song cũng đủ để chúng ta thấy Giáo sư Đặng Thai Mai không chỉ nổi tiếng về sự uyên thâm, sự nghiệp xuất sắc mà để trân trọng hơn khi cả cuộc đời ông đã cống hiến cho đất nước. Ông cong là bố vợ của 3 vị tướng tài ba đã đi vào lịch sử dân tộc với những chiến công hiển hách và tự hào.

*Bài viết có sử dụng một số tư liệu của đồng nghiệp.

Vũ Tất Thành (Trường Chính trị tỉnh Thanh Hóa)

Exit mobile version