GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Về bảo tồn và phát huy giá trị vốn văn hóa dân gian trên địa bàn Thanh Hóa

Đăng lúc: 13/09/2017 10:30 (GMT+7)

- (VH&ĐS) Những vốn văn hóa dân gian đa dạng, phong phú của xứ Thanh trong những năm qua đã được sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, giới thiệu ở nhiều nhà xuất bản Trung ương và địa phương. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Thanh đã dành trọn cuộc đời để sưu tầm, nghiên cứu với sự suy mê, trách nhiệm, tâm huyết.

 Lam Kinh.JPG

Các giá trị văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh đang được bảo tồn và phát huy. (Ảnh: Thu Trang)

Văn hóa dân gian của mỗi vùng miền hình thành và phát triển đều mang đậm dấu ấn, đặc trưng của vùng đất và con người sinh sống ở nơi đó. Trong tiến trình lịch sử dân tộc xứ Thanh được xem là vùng đất tối cổ. Con người đã xuất hiện ở đây từ thời tiền sử, sơ sử từ thời đại đá cũ sang đá mới rồi kim khí. Những khai quật khảo cổ học trong thế kỷ XX tại các di chỉ núi Đọ (Thiệu Hóa), núi Nuông, Quan Yên (Yên Định), mái Đá Điều (Bá Thước), Đa Bút (Vĩnh Lộc), hang Con Moong (Thạch Thành), Đông Sơn (TP Thanh Hóa), Hoa Lộc (Hậu Lộc)... là minh chứng về sự xuất hiện của con người từ hàng triệu năm đến cách nay hàng chục vạn năm. Lịch sử mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc, xứ Thanh luôn được xem là vùng đất “phên dậu”, “căn bản”, “thang mộc” của đất nước. Đây là địa bàn sinh sống của nhiều dân tộc như Kinh, Mường, Thái, Dao, Thổ, Mông, Khơ Mú với những sắc thái văn hóa dân gian khá rõ nét.

Trong phạm vi bài viết này chúng tôi chỉ xin nêu một vài nét về việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa dân gian trên địa bàn tỉnh. Trải qua hàng mấy ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nước văn minh xứ Thanh xuất hiện khá sớm trong nền văn minh của người Việt cổ. Trống đồng Đông Sơn là biểu tượng tiêu biểu của văn minh Đông Sơn thuở các vua Hùng dựng nước đã được nhân loại công nhận được phát hiện đầu tiên ở Thanh Hóa. Tạo hóa đã ban tặng cho xứ Thanh một vùng đất có thế núi hình sông hùng vĩ đủ các vùng miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển với núi cao, sông sâu, biển rộng là hình ảnh thu nhỏ của đất nước Việt Nam. Ngay trong thuở hồng hoang của lịch sử con người đã tiến từ vùng núi chiếm lĩnh đồng bằng rồi vươn ra biển. Quá trình khai phá, cải tạo thiên nhiên phục vụ cuộc sống con người luôn mơ ước khát khao cầu cho mưa thuận gió hòa để họ săn bắn được nhiều muông thú, trồng trọt được nhiều lương thực, đánh bắt được nhiều cá tôm để ổn định cuộc sống. Những ước mơ, khát vọng cháy bỏng về sức mạnh siêu phàm dời núi, đào sông, lấp biển xuất hiện trong những truyện thần thoại, truyền thuyết, cổ tích của các dân tộc. Đó là ông Thu Thiên, bà Thu Tha của người Mường, Ải Lậc cậc của người Thái, ông Nưa, ông Bưng, ông Vồm, ông Lau, ông Cõng đá... của người Kinh. Những địa danh, nhân vật huyền thoại ấy vẫn được truyền tụng trong dân gian suốt thế hệ này qua thế hệ khác. Nó tạo thành niềm tin, ý chí mãnh liệt giúp con người vượt qua mọi khó khăn, thách thức, ổn định cuộc sống.

Quá trình lao động sản xuất con người đã từng bước biết hợp tác tương trợ, giúp đỡ nhau. Phải chống chọi, vật lộn với thiên nhiên ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa nắng lắm mưa nhiều nên cái cách “trông trời, trông đất, trông mây” để cày bừa, gieo trồng, chăn nuôi, đánh bắt... đã được con người tích lũy, đúc kết thành kinh nghiệm. Những câu tục ngữ, thành ngữ, phương ngôn, ca dao... được phổ biến lưu truyền. Trong lao động sản xuất, sinh hoạt cộng đồng tạo nên những sinh hoạt văn nghệ dân gian của từng tộc người trên các vùng miền được lưu truyền qua phương thức truyền miệng. Quá trình giao lưu, sinh hoạt văn hóa những bài dân ca, truyện thơ hoặc những trường ca, sử thi xuất hiện. Nhiều tác phẩm giải thích nguồn gốc sự hình thành của loài người và vũ trụ như Đẻ đất, đẻ nước của người Mường, Toi ẩm ọoc nậm đìn của người Thái. Hoặc đó là những truyện thơ phản ánh tình yêu lứa đôi, sự phản kháng với những tập tục, lề thói ràng buộc của xã hội khiến đôi lứa phải xa cách, ly biệt... như nàng Út Lót, đạo Hồi Liêu, nàng Nga, đạo Hai Mối, nàng Ờm chàng Bồng Hương của người Nường, Khăm Panh, Ú Thêm của người Thái, truyện Phương Hoa của người Kinh...

Những truyền thuyết, cổ tích, những bài ca dao, truyện thơ về tình yêu lứa đôi càng vun đắp tình yêu của trai thanh nữ tú với quê hương xứ sở. Chính điều đó tạo nên sức mạnh tiềm tàng để họ tranh đấu vượt qua những định kiến về thân phận, địa vị xã hội để chung tay gìn giữ, xây dựng hạnh phúc gia đình. Ở từng truyền thuyết, cổ tích, ca dao, dân ca, truyện thơ... người lương thiện có thể bị thiệt thòi, thua thiệt, kẻ ác đôi lúc thắng thế nhưng khát vọng đấu tranh vì công bằng, lẽ phải hướng tới chân, thiện, mỹ của người dân không bao giờ bị dập tắt.

Sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo cùng với các trò chơi, trò diễn cũng xuất hiện từ khá sớm. Đi khắp mọi vùng miền, dân tộc của xứ Thanh chúng ta thấy nhiều lễ hội, trò diễn được tổ chức nhất là dịp xuân thu nhị kỳ. Đó là các trò hát múa Xuân Phả (Thọ Xuân), ngũ trò Bôn, Viên Khê, tổ khúc hát múa Đông Anh (Đông Sơn), trò Chiềng, trò Chụt (Yên Định), múa đèn, bơi chải, chạy chữ (Thiệu Hóa, TP.Thanh Hóa), Sanh Ngô (Hoằng Hóa). Người Mường có xương rang, bộ mẹeng, người Dao có múa chuông, múa bắt rùa... Những sinh hoạt văn hóa cộng đồng trên đã làm con người xích lại gần gũi, chia sẻ những buồn vui trong cuộc sống. Tình cảm thân thiết đó lại càng trở nên bền chặt trong những lúc mọi người cùng chung lưng đấu cật vượt qua những trận bão gió, lụt lội, hỏa hoạn hoặc đau ốm, bệnh tật. Tình cảm keo sơn thắm thiết đó xuất hiện trong nhiều bài ca dao, dân ca, truyện thơ được truyền tụng qua nhiều thế hệ.

Là vùng đất đắc địa xứ Thanh trong tiến trình lịch sử dân tộc là nơi phát tích của nhiều triều đại phong kiến như Tiền Lê, Hồ, Hậu Lê, Nguyễn. Bởi được tạo hóa ban tặng cho vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng nổi tiếng như Bà Triệu, Dương Đình Nghệ, Lê Hoàn, Lê Phụng Hiểu, Lê Lợi, Nguyễn Kim, Trịnh Kiểm, Nguyễn Hoàng... khí tinh hoa tụ họp lại nảy ra nhiều bậc văn nho tài danh như Khương Công Phụ, Lê Văn Hưu, Lê Quát, Lê Thánh Tông, Đào Duy Từ... Những chiến công, kỳ tích lẫy lừng của họ trong chiến trận, những trang sử, thơ văn chân thật, hào hùng tài hoa cùng những huyền thoại, giai thoại ly kỳ hấp dẫn về cuộc đời, sự nghiệp của họ được dân gian lưu truyền. Chính những vị vua chúa, văn thần, võ tướng đó làm rạng danh cho đất và người xứ Thanh suốt nhiều thế hệ.

Từ buổi bình minh của lịch sử dân tộc con người sinh sống ở vùng đất xứ Thanh đã thể hiện sự chăm chỉ cần cù nhưng cũng rất khéo léo, tài hoa trong chế tạo công cụ lao động phục vụ sản xuất, sinh hoạt. Nghề đúc đồng có ở Thiệu Hóa, nung gốm ở Đông Sơn, Thiệu Hóa, TP Thanh Hóa. Nghề chạm khắc đá ở Đông Sơn, Vĩnh Lộc; nghề mộc ở Đạt Tài (Hoằng Hóa), đan lát ở Quảng Xương, Hoằng Hóa; dệt nhiễu ở Hồng Đô (Thiệu Hóa), chiếu cói ở Nga Sơn, Quảng Xương, nghề rèn ở Hậu Lộc của người Kinh và của người Mông ở miền núi. Nghệ thuật thêu thùa tinh xảo thể hiện trên những tấm thổ cẩm, chăn, gối, áo, váy của người Mường, Thái, Dao, Mông... vẫn được bảo tồn ở nhiều bản, làng.

Những năm tháng đánh Pháp, đánh Mỹ, cứu nước, những bài ca dao, hò, vè từ nhiều vùng quê xứ Thanh đã cùng các đoàn dân công tiếp vận, đội thanh niên xung phong, đơn vị bộ đội lan tỏa ở khắp các trận địa, chiến trường. Sự lạc quan tin tưởng và khí thế sục sôi hào hùng đã nâng bước những đoàn quân xung trận lập nên những kỳ tích lẫy lừng để đất nước liền một dải, Nam Bắc trọn niềm vui sum họp.

Những vốn văn hóa dân gian đa dạng, phong phú của xứ Thanh trong những năm qua đã được sưu tầm, nghiên cứu, biên soạn, giới thiệu ở nhiều nhà xuất bản Trung ương và địa phương. Nhiều nhà nghiên cứu văn hóa dân gian xứ Thanh đã dành trọn cuộc đời để sưu tầm, nghiên cứu với sự suy mê, trách nhiệm, tâm huyết. Vừa qua trong bốn tác giả của tỉnh nhận giải thưởng Nhà nước năm 2017 thì có ba người thuộc lĩnh vực văn nghệ dân gian là cố tác giả Minh Hiệu, nhà nghiên cứu Hoàng Anh Nhân, Vương Anh. Niềm hạnh phúc của từng tác giả cũng là vinh dự tự hào của người tỉnh Thanh nói chung và  những người sưu tầm, nghiên cứu văn nghệ dân gian Thanh Hóa nói riêng.

Nối tiếp những thành quả của các thế hệ trước, 5 năm qua những người làm văn nghệ dân gian Thanh Hóa tiếp tục tham gia biên soạn, giới thiệu vốn văn hóa dân gian Thanh Hóa. Ban đã phối hợp với Chi hội Văn nghệ dân gian Việt Nam tại Thanh Hóa xuất bản hai công trình tập thể là cuốn “Văn hóa dân gian Thanh Hóa” dày hơn 440 trang nhân kỷ niệm 40 năm thành lập Hội Văn  học Nghệ thuật Thanh Hóa và cuốn “Lê Lợi và khởi nghĩa Lam Sơn trong tâm thức dân gian” dày hơn 280 trang nhân kỷ niệm 600 năm Hội thề Lũng Nhai: Nhiều hội viên trong ban cũng có nhiều công trình, tác phẩm được xuất bản. Đó là Hoàng Khôi với 4 tác phẩm: “Việt sử những gương mặt phản diện”, “Truyền thuyết về những người mở cõi”, “Nguyễn Du trên đường gió bụi”, Biền Việt, đảo Việt” và một tác phẩm viết chung “ Khảo cứu truyện Kiều”. Trịnh Hoành xuất bản hai cuốn: “Tìm hiểu phả ký và phương pháp lập gia phả” và “Tìm hiểu giáo dục và khoa cử thời xưa”. Trần Thị Liên xuất bản cuốn “Những sắc màu văn hóa” tập 2 và viết chung với Phạm Văn Đấu, Phạm Minh Trị cuốn “ Khảo sát văn hóa truyền thống Đông Sơn” do Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam xuất bản. Nguyễn Xuân Luật tham gia biên soạn phần Văn hóa xã hội trong cuốn “Địa chí huyện Cẩm Thủy”. Lê Văn Viện xuất bản cuốn “Các vua và hoàng hậu táng ở Lam Kinh”. Mai Hồng Hải chủ biên nhiều cuốn địa chí như Quan Hóa, Bá Thước, Quan Sơn, Trọng Miễn có tập tiểu luận phê bình “Một góc nhìn” (tập 2), Phạm Thị Hằng có cuốn “Văn học dân gian người Thái ở Thanh Hóa” đang hoàn tất thủ tục xuất bản. Với sự đam mê nhiệt huyết những người làm công tác nghiên cứu văn hóa dân gian Thanh Hóa càng làm diện mạo văn hóa dân gian ngày thêm đa dạng phong phú. Để vốn quí đó không bị mai một trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa quê hương, đất nước, những người làm văn nghệ dân gian Thanh Hóa mong được tỉnh tiếp tục quan tâm trong sưu tầm nghiên cứu, biên soạn, xuất bản vốn văn hóa dân gian của  các tộc người lâu nay ít được quan tâm như Thổ, Dao, Mông, Khơ Mú. Thời gian tới tỉnh nên đầu tư xuất bản bộ Tổng tập văn hóa dân gian Thanh Hóa để người dân ở trong, ngoài nước hiểu sâu hơn về sắc thái văn hóa dân gian Thanh Hóa trong bản sắc dân tộc Việt Nam. Đề nghị tỉnh chỉ đạo ngành giáo dục đào tạo có kế hoạch giới thiệu những nét văn hóa dân gian tiêu biểu của Thanh Hóa trong các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông để giáo dục, bồi dưỡng lòng tự hào, tự tôn với quê hương đất nước. Tỉnh cần kịp thời động viên khen thưởng cho những tác giả có công trình, tác phẩm tạo ấn tượng, tiếng vang trong nước. Với truyền thống của vùng quê giàu truyền thống lịch sử và văn hóa, truyền thống yêu nước và cách mạng, sự nhiệt tình, say mê của những người làm văn hóa dân gian, sự quan tâm thường xuyên sâu sát của lãnh đạo tỉnh chúng tôi tin rằng sẽ có thêm nhiều công trình, tác phẩm văn hóa dân gian được xuất bản trong thời gian tới.

Phạm Minh Trị


0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1

Dự báo thời tiết Thanh Hóa