Góc nhìn

Tổng biên tập
LÊ VĂN NAM
Dự báo thời tiết Thanh Hóa

Bàn thêm về ‘châu’ - ‘phủ’ trong quan hệ với địa danh hành chính Thanh Hóa

Đăng lúc: 15:00:00 15/07/2017 (GMT+7)

(VH&ĐS) Căn cứ vào bộ chính sử quan trọng thứ hai của lịch sử Việt Nam (sau Toàn thư) là sách Cương mục thì địa danh hành chính Thanh Hóa xuất hiện vào năm Thiên Thành thứ 2 triều Lý Thái Tông (1029).

Cụ thể, tại tờ 20, quyển 21 sách Cương mục có đoạn: ([Thanh Hóa]: Xưa, thời Hùng Vương là quận Cửu Chân, đời Tần thuộc Tượng quận, đời Hán là quận Cửu Chân, đời Ngô - Tấn - Tống cũng theo đó [là Cửu Chân].Đời Lương Vũ đế đổi Cửu Chân làm Ái Châu, đời Tùy trở lại tên gọi là quận Cửu Chân. Đời Đường thì phân tách và bố trí thành hai quận Ái Châu và Cửu Chân. Triều Đinh, Lê gọi là Ái Châu. Triều lý đổi là trại. Năm Thiên Thành thứ hai (1029) đổi làm Thanh Hoá phủ).

Chúng tôi cho rằng phần công bố của các sử gia triều Nguyễn về thời điểm xuất hiện của Thanh Hóa với tư cách là đơn vị hành chính: Thanh Hóa phủ vào năm 1029 Cương mục rất đáng tin cậy. Bởi lẽ, Cương mục là bộ quốc sử cực kỳ quan trọng của triều Nguyễn, được thực hiện trong nhiều năm (từ năm 1956 đến năm 1959), lại trải qua các lần "duyệt nghị" (1871), "duyệt kiểm" (1872), "phúc kiểm" (1876), "duyệt định" (1878), "kiểm duyệt" (1884) rồi mới được khắc in và ban hành vào năm Kiến Phúc thứ 1 (1884).

Từ cứ liệu của Toàn thư , chúng tôi thấy rằng những ý kiến xác định cột mốc năm 1082 xuất hiện địa danh Thanh Hóa (với tư cách là đơn vị hành chính) là không hợp lý. Bởi vậy, chúng tôi thống nhất quan điểm với các công bố của Cương mục là cột mốc năm 1029 (niên hiệu Thiên Thành thứ 2 đời Lý Thái Tông). 

Trong bài viết này, chúng tôi đề cập đến vấn đề châu” - “phủ” trong quan hệ với địa danh hành chính Thanh Hóa. “Châu” và “phủ” ở đây là hai đơn vị hành chính có quan hệ mật thiết với danh xưng Thanh Hóa. Đấy cũng là mấu chốt tạo ra cuộc tranh luận kéo dài về thời điểm bắt đầu xuất hiện tên gọi Thanh Hóa trong lịch sử.

Như đã biết, vào đời Lương Vũ Đế (502 - 549), vùng đất này bắt đầu xuất hiện địa danh Ái châu, đấy là kết quả của sự chia tách phần phía bắc quận Cửu Chân. Đến đời Tùy (589 - 617) thì Ái châu lại cho lệ vào quận Cửu Chân. Xin lưu ý rằng vào đời Lương - Tùy, Ái châu tồn tại với tư cách là đơn vị hành chính “châu” (nên có thể gọi là châu Ái).

Đến triều đại nhà Đường (618-907) thì nơi đây mới được chia tách làm hai quận: Ái Châu quận Cửu Chân quận. Tức rõ ràng Ái Châu (viết hoa 2 chữ) ở đời Đường là danh từ riêng, dùng để chỉ đơn vị hành chính cấp “quận” (Ái Châu quận) chứ không còn là đơn vị hành chính “châu” như trước nữa.

Vào niên hiệu Thuận Thiên thứ nhất (1010), vua Lý Thái Tổ đổi 10 đạo trong cả nước làm 24 lộ, riêng đối với châu Hoan châu Ái được đổi làm trại (ở đây lại quay về đơn vị hành chính cấp “châu” (Ái châu)... Và, như Cương mục đã nói, vào năm Thiên Thành thứ 2 (1029), vua Lý Thái Tông gọi toàn vùng đất này là Thanh Hóa phủ.

Vậy, khi đã có phủ Thanh Hóa vào năm 1029 (đơn vị hành chính “phủ”) , liệu rằng tên gọi địa danh hành chính Ái châu có thể cùng tồn tại song song được không? Xin trả lời rằng: hoàn toàn được, đấy là điều hiển nhiên. Bởi lẽ Ái châu ở đây chỉ là đơn vị châu thuộc phủ Thanh Hóa. Dấu ấn của phủ Thanh Hóa bao quát Ái châu kéo dài đến thời nhà Minh đô hộ (1407-1427). Các tư liệu hiện tồn như Đại Minh nhất thống chí, Việt kiệu thư của Lý Văn Phượng đời Minh, An Nam chí [nguyên] của Cao Hùng Trưng, Sử học bị khảo của Đặng Xuân Bảng... thể hiện rõ nét vấn đề này. Chẳng hạn: Đại Minh nhất thống chí quyển 90, mục An Nam cho biết: Thanh Hóa phủ: lãnh 4 châu là châu Cửu Chân, châu Ái, châu Thanh Hóa, châu Quỳ; 11 huyện gồm: Yên Định, Vĩnh Ninh, Cổ Đằng, Lương Giang, Đông Sơn, Cổ Lôi, Nông Cống, Tống Giang, Nga Lạc, Lỗi Giang, An Lạc)

 1793a6b.jpg

Đại Minh nhất thống chí, quyển 90, mục An Nam - Thanh Hóa phủ.

Tại Việt kiệu thư, mục Châu huyện diên cách, Lý Văn Phượng viết: Thanh Hóa phủ: lãnh 4 châu, 11 huyện gồm: châu Cửu Chân, châu Ái, châu Thanh Hóa, châu Quỳ; huyện Yên Định, huyện Vĩnh Ninh, huyện Cổ Đằng, huyện Lương Giang, huyện Đông Sơn, huyện Cổ Lôi, huyện Nông Cống, huyện Tống Giang, huyện Nga Lạc, huyện Lỗi Giang, huyện An Lạc).

 1793a6c.jpg

Việt kiệu thư (châu huyện diên cách) - Thanh Hóa phủ.

An Nam chí nguyên, tác giả Cao Hùng Trưng ghi rằng: Phủ Thanh Hóa có 6 huyện trực lệ gồm: An Định, Vĩnh Ninh, Cổ Đằng, Lương Giang, Đông Sơn, Cổ Lôi; [còn lại] 4 châu 5 huyện gồm: châu Cửu Chân với huyện Nông Cống, châu Ái với huyện Tống Sơn, châu Quỳ, châu Thanh Hóa với 3 huyện là Nga Lạc, An Lạc, Lỗi Giang).

 1793a6d.jpg

An Nam chí nguyên, quyển 1: Châu phủ, mục Thanh Hóa phủ.

Nói về đơn vị hành chính phủ Thanh Hóa thời thuộc Minh, sử gia Đặng Xuân Bảng viết: “Phủ Thanh Hóa có 4 châu (Thanh Hóa, Ái châu, Cửu Chân, Quỳ châu) gồm 19 huyện, có 7 huyện trực thuộc là Cổ Đằng (nay là Hoằng Hóa) Cổ Hoành (có cửa biển Hội Trào, sau dồn vào Cổ Đằng, nay là Hoằng Hóa) Đông Sơn (có núi An Hoạch, núi Long Đại) Lương Sơn (nay là Thụy Nguyên) Cổ Lôi (có cửa ải Nghiêu Sơn, nay là Lôi Dương) An Định, Vĩnh Ninh (có núi Kim Âu, núi Hy Mã, nay là Vĩnh Lộc)... Châu Ái (nay là Hà Trung) có 4 huyện là: Hà Trung (có cửa biển Linh Trường, nay là Hậu Lộc) Thống Ninh (vốn là Thống Binh đổi ra, nay là Hậu Lộc) Tống Giang (nay là Tống Sơn) Chi Nga (có 2 cửa biển là Thần Đầu, Chi Long nay là Nga Sơn)...”.

Qua các dẫn chứng trên, chúng tôi thấy rằng bởi châu Ái (cũng gọi là Ái châu) là một đơn vị hành chính cấp châu thời bấy giờ, trực thuộc phủ Thanh Hóa nên các tư liệu sử sách của Việt Nam như Toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, An Nam chí lược, Việt sử lược, Cương mục, Lịch triều hiến chương loại chí... vẫn thường xuyên đề cập đến Ái châu (châu Ái) từ cột mốc 1029 trở đi là chuyện bình thường. Điều đó không hề phủ nhận sự tồn tại của phủ Thanh Hóa, tức địa danh hành chính Thanh Hóa (với tên gọi cụ thể: Thanh Hóa phủ) hiện diện đầu tiên vào năm Thiên Thành thứ 2 triều Lý Thái Tông (1029) như ghi chép của Cương mục là hoàn toàn có cơ sở khách quan để xác định.

Việc nghiên cứu về sự ra đời và biến đổi của các địa danh hành chính trong lịch sử là việc làm không hề đơn giản. Bởi do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan chi phối, sự ghi chép của tiền nhân không hẳn lúc nào cũng tỉ mỉ, cụ thể và rạch ròi. Đối với địa danh hành chính Thanh Hóa, mặc dù có nhiều tư liệu nói đến nhưng rất ít tư liệu giúp giải quyết rốt ráo về thời điểm xuất hiện của tên gọi này. Thực trạng ấy khiến cho các nhà nghiên cứu hiện nay chưa tìm được tiếng nói thống nhất để đi đến đồng thuận về thời gian ra đời cụ thể của Thanh Hóa. Đấy cũng chính là vấn đề chúng tôi rất quan tâm và cố gắng giải quyết ở bài viết này.

Bằng việc dẫn liệu nguồn thư tịch có liên quan cùng phương pháp loại suy, khu biệt, chúng tôi cho rằng tên gọi Thanh Hóa với tư cách là một đơn vị hành chính cụ thể (phủ Thanh Hóa) bắt đầu xuất hiện vào năm 1029 là hợp lý nhất. Vì như ghi chép của Toàn thư, khi Lý Thường Kiệt cầm tiết việt đến vùng đất xứ Thanh trước lúc ông tham chiến ở đất Chiêm Thành (1069) thì nơi đây đã được gọi tên là Thanh Hóa.

Tên gọi Thanh Hóa gắn liền với đơn vị hành chính “phủ” (phủ Thanh Hóa) không hề mâu thuẫn gì với sự tồn tại của Ái châu, và cả hai đơn vị hành chính trên cùng tồn tại là điều khách quan, phù hợp. Vì “phủ” là đơn vị hành chính cao hơn, có vai trò và trách nhiệm cai quản mọi mặt đối với các đơn vị hành chính nhỏ trực thuộc như “châu”, “huyện” bấy giờ; Do đó, Ái châu chỉ là 1 trong 4 châu nằm trong phủ Thanh Hóa (từ thời Lý, Trần, thuộc Minh...).

Với các cứ liệu hiện có, chúng tôi đồng thuận với quan điểm ở Cương mục về thời điểm bắt đầu hiện hữu tên gọi Thanh Hóa (với đơn vị hành chính “phủ”) vào năm Thiên Thành thứ 2 (1029) đời vua Lý Thái Tông.

TS. Võ Vinh Quang

(Phân viện Văn hóa nghệ thuật Quốc gia Việt Nam tại Huế)

1
0 bình luận
(Bấm vào đây để nhận mã)