GMT+7
Trang chủ / Tản văn

Những mùa mưa phùn

Đăng lúc: 08/12/2018 08:00 (GMT+7)

Sáng nay thức giấc, nghe giọt giọt tiếng rơi thật khẽ, thật chậm từ những lọn lá cọ của mái tranh. Chừng như sương mà vẻ đậm đầy, trĩu trịch hơn sương, chừng như mưa mà mong manh, nhẹ bẫng hơn mưa. Tôi rướn mắt qua cửa voóng, ngoài kia, đầu vườn cuối dốc, và xa xa là núi, là thung đang giăng mắc một màn trăng trắng, mong mỏng. Ừ! chừng như mây mà không phải mây, giống sương mà dày hơn thế. Đám cỏ cây trong vườn long lanh ướt. Mưa thật đó ư? Hình như thế, cũng chẳng rõ có  nên mưa, nhưng chừng giống mưa nhất. Gần tầm mắt thấy rõ những sợi trắng mờ, trong veo, li ti hệt trăm nghìn sợi tơ bay bay, rắc rắc vào trời. Chúng chẳng đủ làm ướt con đường, nhưng đã làm đất đổi màu, cái màu vàng vàng, khô khô hôm qua giờ biến thành màu nâu sẫm, âm ẩm. Mặt lũ đá trong vườn hôm qua còn xám mốc, trơ khốc hôm nay cũng xanh xanh, dìu dịu như thể chuẩn bị cho rêu lên mầm.

Mẹ xuống chợ từ lúc tinh mơ, tôi đoán thế, vì mấy ngày  tôi về thăm chẳng hôm nào gặp mẹ buổi sáng. Từ lúc mặt trời còn chưa rõ mặt người, mẹ đã quẩy đôi thúng đi xuống chợ huyện . Con dốc chưa đủ trơn, chỉ mơ hồ, nhè nhẹ để lại hình vết dấu chân mẹ từ tinh sương, mẹ lại chân đất, đầu trần, chiếc nón lá tri kỷ mốc thếch, vênh vành vẫn treo trên phên vách cạnh cầu thang. Mưa phùn, thứ mưa cứ như có, như không ấy làm người ta thường chủ quan đến mức chẳng buồn khoác tấm bạt ni lông hay đội nón mũ lên đầu mà tránh ướt. Rồi cứ đội lớp lớp những sợi li ti mong manh, hiền lành ấy mà đi như vô sự, vô hại, cho đến khi nhận ra có giọt giọt long tong chảy từ trên tóc làm ướt mặt, mi mắt trĩu nhòa, hay chiếc áo sung sũng làm thân thể rùng rùng lạnh, mới biết mình ướt mưa.

Mưa phùn. Tôi thích nó, vì nó ám ẩn trong tôi nhiều kỷ niệm, nhiều cảm xúc, nhiều nỗi nhớ. Thứ mưa chẳng nên mưa, sương chẳng nên sương ấy, làm ướt lạnh cha tôi biết bao lần chân đất đầu trần lên thung kiếm củ độn cơm ngày giáp hạt. Lúc đi thì tóc khô, áo khô, con đường chỉ vừa âm ẩm đất. Lần nào trở về những ngón chân cha cũng bầm đỏ vì gồng bấm dốc trơn, đầu trắng mưa, tong tong giọt lạnh nhòa nhoẹt mặt. Áo quần ướt, không chỉ vì mưa đọng, mà còn vì mưa đậu dồn thật nhiều trên lá trên cỏ, rồi đợi ùa táp vào người cha  ào ạt như mưa rào, mỗi khi cha dạt rẽ bụi cây lùm cỏ, chui luồn bới tìm những bụi củ mài, củ nâu trên núi. Tháng ba, mùa nhàn hạ, trên nương đám hoa màu chậm rãi lên xanh, bọn cỏ cũng lơ thơ chen lấn, chỉ một hai buổi nhổ dọn đã sạch  gọn. Thế là hết việc, rỗi rãi. Nương rẫy, chân tay nhàn nhạ bao nhiêu gác bếp rỗng rễnh, mâm cơm hao cạn bấy nhiêu. Mùa giáp hạt nào cũng đói, gạo từ mùa trước ăn dè xẻn độn sắn, độn ngô dần cũng vơi hết. Nên hồi xưa ấy, năm nào tháng mưa phùn cha cũng đội sương, đội mưa vào thung thật sớm, để giành tìm những bụi củ mài với người ta. Thung rộng thì rộng đấy, núi cũng lớp lớp núi cao, nhưng củ mài cả năm chỉ nên được một lần, mà người người lũ lượt kéo nhau đi hết ngày này đến ngày khác. Càng cuối những ngày giáp vụ, chiếc bị, chiếc troi của người đi mót củi càng trống trếnh, nhẹ tênh. Ấy thế nhưng chúng tôi cũng ấm bụng, đi qua được những tháng ba như thế để lớn khôn, nhờ biết bao lần cha đội mưa phùn ngược dốc núi...

Bây giờ mùa mưa phùn, cha không lên thung kiếm củ nữa, mà mẹ lại đội mưa phùn xuống chợ huyện mua cá, kiếm mắm, muối, thịt thà đem về núi bán đổi kiếm bữa qua mùa giáp hạt.

Thy Sương

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1


Tin, bài cùng tác giả