GMT+7
Trang chủ / Tản văn

Đâu rồi ngày xưa ơi!

Đăng lúc: 19/03/2018 16:00 (GMT+7)

 Đâu rồi ngày xưa ơi!.jpg

Tranh minh họa của Ngọc Hiếu.

Tôi vẫn còn nhớ, ngày ấy đám cưới của người Mường giản dị lắm. Tất cả mọi thứ đều không phải mua như bây giờ. Cô dâu, từ lúc dậy thì đã biết trồng dâu, nuôi tằm, quay tơ, dệt vải để làm chăn đệm, váy, khăn chuẩn bị cho ngày đi...lấy chồng. Công việc ban ngày bận là thế nhưng đêm đêm người thiếu nữ vẫn thức rất khuya bên khung cửi, tỉ mẩn đưa từng sợi tơ vào căng cho thẳng  và con thoi nhẹ nhàng lên xuống thành những đường nét hoa văn thổ cẩm nhiều màu trông thật đẹp mắt. Để dệt nên một tấm vải thì thật là lâu... các cô gái phải ngồi không biết bao nhiêu đêm...

Dệt xong rồi lại may thành váy, khâu thành những chiếc đệm, chiếc gối xinh xinh...với họa tiết tinh tế. Tôi yêu vô cùng những sản phẩm thủ công ấy. Nó đẹp không chỉ bởi màu sắc mà nó còn mang cả tâm hồn và tính cách của người thiếu nữ trong đó nữa. Và có lẽ vì vậy mà tính cách hay lam, hay làm, chịu thương, chịu khó của người con gái dân tộc Mường cũng được rèn luyện, hình thành trong quá trình chuẩn bị của hồi môn để đi lấy chồng.

Năm tôi học lớp bốn, có mấy bạn mang cả khăn lên lớp để thêu, thì ra các bạn sợ nếu không chịu khó sau này lấy chồng có ít của hồi môn thì... đằng trai họ... cười cho, bảo cô dâu lười. Thấy những sợi chỉ xanh, chỉ vàng và chiếc kim thoăn thoắt trên tay các bạn một lúc đã thành hình chiếc trống, chiếc chiêng, hình hoa văn truyền thống...thì mình phục lắm. Lân la đứng cạnh xem cũng muốn tự tay thêu được cái khăn như thế nhưng thực tế thì đến xâu kim mình cũng chịu. Các bạn cười trêu, cứ mải mê với sách và truyện đến hỏng cả mắt như mình thì người dân tộc họ chả thèm lấy đâu, về xuôi may ra...khỏi ế...

Có một điều đặc biệt, cả lớp đều người Mường, mỗi mình là dân tộc Kinh, may mà không bị kì thị. Mỗi khi nói chuyện mà có mặt mình là các bạn nói tiếng Kinh nhưng lúc kể về một anh bạn nào đó lại chuyển sang tiếng Mường cười rúc rích với nhau. Năm ấy, tôi nhỏ tuổi nhất lớp, lại ốm yếu còi cọc nên đi cùng các bạn phải thấp hơn... gần hai cái đầu... cuối năm bạn Nhung đi lấy chồng, sau là bạn Kéo, bạn Xuân... cũng bỏ học giữa chừng về làm dâu nhà người. Chẳng biết, trên chín bậc núi rừng thênh thang ấy các bạn có còn cười đùa rúc rích như những ngày còn học lớp cô Châu hay không??? Nhưng cứ có đám cưới là vui, vui vì bé thế mà được làm bạn của cô dâu... được tham dự chứ không phải đứng bên cạnh đường ngóng cổ ra xem.

Trước hôm cưới, bạn bè thân thiết rủ nhau đến nhà ngủ thăm. Để ngày mai cùng cô dâu lên đường... Bao nhiêu người bạn thân là bấy nhiêu bộ váy mới.  Cô dâu chỉ khác các bạn là đeo một chiếc dón và đội nón mới. Ngày ấy, mình bé quá nên phải khâu vén gấu váy, gập hai phần ba cái cạp thổ cẩm mới quấn vừa cái thân hình vừa còi vừa thấp, để xúng xính cùng các bạn... Đoàn nhà trai đến đón dâu, cũng quần áo đầu tóc, giày dép giống hệt nhau. Mỗi anh còn mang theo một tàu lá cọ trao cho bạn gái cô dâu...

Chú rể bước lên nhà gái phải quỳ lạy không biết bao nhiêu lần mà kể, gặp các bậc trưởng thượng cô, dì, chú, bác của cô dâu đều phải gọi là bố, mẹ, xưng con và quỳ lạy mỗi người 3 cái. Động tác lạy cũng thật phức tạp nhưng cũng thật đẹp, đứng chắp tay vái, khom người quỳ xuống và để tay sát chiếu, dập đầu vào bàn tay 2 lần.

Ông mai đi xin dâu khi nói chuyện râm ran, lúc thì hát xường đối đáp với nhà gái, bên nào đối đáp thua phải uống phạt cả bát rượu siêu. Cứ như vậy đến khi cô dâu ra khỏi nhà và được nhà gái đưa tiễn bằng những chén rượu tiễn ngay trước cổng mỗi người đi ra phải uống 1 chén rượu to đầy.

Cả đoàn đám cưới nhẹ bước lên đường. Có khi vài chục kilomet đường rừng cũng không thấy mệt mỏi. Vài chú trung tuổi, bầu rượu buộc ngang hông, vừa đi vừa thổi khèn, mặt đỏ au... Tiếng cười, nói, tiếng khèn lẫn bước chân đi rộn rã lòng hai họ...

Cái làm cho tôi thích nhìn nhất là những sọt to, sọt nhỏ ở ngoài bọc lá cọ, xuyên giữa là cây cọc làm chiếc đòn cho hai người khiêng. Trong những chiếc sọt ấy là chăn, gối, đệm, váy, khăn... tự tay cô dâu làm mang về nhà chồng để biếu bố mẹ, ông bà... tỏ lòng hiếu thảo và cũng là thể hiện cái nữ tính, đảm đang của người con gái... Có đám cưới đến vài chục... khiêng như thế. Đám nào nhiều khiêng chứng tỏ cô dâu là người chăm chỉ.

Người Mường coi trọng sự tảo tần, vì vậy họ cưới vợ cho con có khi từ lúc mới mười ba, mười bốn tuổi. Với quan niệm lấy dâu về để có người làm... thì cô dâu trước tiên phải thật siêng năng, biết làm nương rẫy, thức khuya dậy sớm...

Đám cưới với những khiêng to, khiêng nhỏ... Lợn, gà, gạo nếp, bánh chưng, bánh ú... rầm rập đi qua... Rồi đến đoàn ông mơ, bà mơ... cuối cùng là các nam thanh, nữ tú.... đông cứ như ngày hội lớn.

Về đến nhà trai lên mâm, lên cỗ... mỗi người tự múc cho mình một bát canh uôi để ngay ở đầu cầu thang, nước canh âm ấm, ngòn ngọt... trôi tuột vào tận đáy lòng... là cái vị riêng riêng chỉ trong đám cưới của người Mường ngày xưa mới có.

Một điều rất riêng nữa trong đám cưới của người Mường ngày xưa không có đêm tân hôn. Trong những ngày đầu cô dâu về nhà chồng thường có 2, 3 cô gái bạn của cô dâu đến ở lại cùng ăn, cùng ngủ và bầu bạn với cô dâu từ 4 đến 5 ngày đầu. Đây cũng là cơ duyên để các chàng trai cô gái là bạn của chú rể và cô dâu gặp gỡ, tìm hiểu rồi yêu nhau.

Ngày nay, nhìn những đám cưới rình rang với xe hoa, váy trắng... bước xập xoè lên chín bậc nhà sàn, với chăn ga gối đệm đi mua... Lòng tôi chợt cảm thấy bâng khuâng buồn và dường như mất mát một điều gì.

Phạm Thị Thu

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1


Tin, bài cùng tác giả