GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Xứ Thanh trong dòng chảy ngàn năm văn hóa Thăng Long

Đăng lúc: 15/12/2017 11:00 (GMT+7)

- Trong dòng chảy của Thăng Long ngàn năm có sự đóng góp của châu thổ sông Mã, xứ Thanh từ những nền văn hóa tiền Thăng Long cho đến buổi định đô và cả nghìn năm văn hiến.

 Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình..jpg

Đặc trưng nổi tiếng nhất của khu phố cổ là các phố nghề. Thợ thủ công từ các làng nghề quanh Thăng Long xưa tụ tập về đây, tập trung theo từng khu vực chuyên làm nghề của mình.

Tài liệu lịch sử đã khẳng định: Trước khi văn hóa Thăng Long hình thành phát triển và tỏa sáng trên không gian của văn minh Đại Việt, từ kinh đô của các vua Hùng (vùng Bạch Hạc - Việt Trì) đến kinh đô Cổ Loa của Thục Phán An Dương Vương đã hình thành, phát triển các nền văn hóa với những bản sắc văn hóa đặc sắc. Hệ thống các nền văn hóa cổ từ văn hóa Phùng Nguyên đến văn hóa Đồng Đậu, Gò Mun và Đông Sơn đã hình thành, phát triển trong mối liên hệ văn hóa tộc người ngày càng rộng mở. Văn hóa Đông Sơn là đỉnh cao văn minh của tổ tiên ta thời kỳ dựng nước và giữ nước đầu tiên. Trống Đông Sơn là tiêu biểu tài năng, trí sáng tạo của tổ tiên ta thời kỳ mở nước, tạo dựng văn minh đã trở thành di sản văn hóa nhân loại, góp mặt cùng những di vật tiêu biểu của các nền văn minh lớn trên thế giới. Hệ thống các nền văn hóa phát triển trên châu thổ sông Hồng là cơ sở cho văn minh Văn Lang - Âu Lạc ra đời, phát triển và trở thành nguồn cội để châu thổ sông Hồng sớm trở thành cái nôi của văn hóa dân tộc.

Văn minh Văn Lang - Âu Lạc với những thành tựu về nông nghiệp, luyện kim, văn hóa đã trở thành nền tảng vững chắc, đưa đất nước ta vượt qua đêm trường Bắc thuộc để bước vào thời kỳ xây dựng nền độc lập, tự chủ, phục hưng văn hóa dân tộc.

Với thành Cổ Loa, kinh đô của Thục Phán An Dương Vương và sau đó ngàn năm là kinh đô của vương Ngô Quyền, đất Thăng Long đã có chiều sâu lịch sử “Kinh đô ngàn năm”.

Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội là giai đoạn tiếp nối của lịch sử dân tộc với những nét văn hóa nổi trội và những đỉnh cao văn minh, văn hiến.

Lịch sử ngàn năm của Thăng Long - Hà Nội từ thuở Lý Công Uẩn định đô nghìn năm trước đến thời đại “Hồ Chí Minh rực rỡ tên vàng” là cả một quá trình phát triển liên tục theo dòng chảy của lịch sử dân tộc và chiều rộng của không gian văn hóa Thăng Long.

Thăng Long theo cách nhìn của các nhà địa lý là thủ đô tự nhiên của miền Bắc Việt Nam: Các mạch núi đều chầu về đây, các con sông đều tụ hội về đây rồi lan tỏa về biển cả. Nét đặc trưng địa lý trường tồn của nghìn xưa Thăng Long và Hà Nội hôm nay là cái đặc trưng của thành phố sông: Thành phố ngã ba sông, trong vùng tứ giác nước, nếu lấy sông Hồng, sông Tô làm hệ quy chiếu, làm trục chỉ đạo(1). Cho đến khi vị khai sáng vương triều Lý chọn nơi này định đô thì vùng đất cửa sông Tô, bên bờ sông Hồng đã là nơi “địa thế rộng mà bằng phẳng, vùng đất cao mà sáng sủa, cư dân không khổ vì ngập lụt, muôn vật đều phong phú, tốt tươi... là chốn bốn phương tụ hội, là nơi đô thành bậc nhất của đế vương muôn đời”(2).

Thăng Long theo tâm thức văn hóa dân gian là nơi trung tâm của trời đất có cái thế “rồng cuộn hổ ngồi”, nơi hội tụ của thần linh nước Việt. Cùng với “thần Long Đỗ”, “thần sông Tô”, các vị thần linh của các vùng, miền của  quốc gia Đại Việt từ thần Đồng cổ xứ Thanh, Phù Đổng Thiên Vương vùng trung châu, Hai Bà Trưng, Bố Cái Đại Vương... đã được cung thỉnh về kinh đô phụng thờ để đất Thăng Long thêm “chất” địa linh.

Thăng Long, Địa Linh Nhân Kiệt với những trầm tích văn hóa Lý - Trần - Lê và các thời kỳ lịch sử đã tạo nên một Thăng Long ngàn năm văn vật. Trên nền tảng của văn minh nông nghiệp lúa nước, các sinh hoạt văn hóa dân gian từ các làng văn, làng nghề, phố nghề của đất kinh kỳ, kẻ chợ được triều đình Lý - Trần - Lê nâng lên thành “quốc lễ” đã làm cho diện mạo văn hóa dân gian kinh thành thêm phong phú. Văn hóa cung đình, văn hóa dân gian; văn chương bác học, văn chương bình dân, trí tuệ dân gian hòa quyện với nhau làm cho “vùng văn hóa dân gian Thăng Long” thêm đặc sắc.

Thăng Long - Đông Đô với hào khí Đông A, hào khí Lam Sơn, với Đông Bộ Đầu, Đống Đa lịch sử, hùng khí Hà Nội “Sống mãi với Thủ đô” thời kháng chiến chống thực dân Pháp và một “Điện Biên Phủ trên không” thời đánh giặc Mỹ và thắng đế quốc Mỹ là cơ sở để Hà Nội trở thành thủ đô anh hùng, “Thủ đô của phẩm giá con người” thành phố vì hòa bình.

Thăng Long nghìn năm văn vật là Thủ đô văn hóa của đất nước, thành phố của những di sản văn hóa nổi tiếng, trong đó hoàng thành Thăng Long đã trở thành di sản văn hóa nhân loại.

Với vị thế ở “nơi trung tâm của trời đất... chốn tụ hội của bốn phương đất nước”(3), trong một quốc gia được xem là “Ngã tư của các nền văn minh”, Thăng Long - Hà Nội có sự giao lưu rộng với các khu vực. Sự giao thoa, tiếp biến, giao lưu văn hóa với các địa phương cùng các yếu tố ngoại sinh, tiếp thu từ Trung Hoa, Ấn Độ, Đông Nam Á, văn minh phương Tây... đã kết tinh thành văn hóa Thăng Long - Hà Nội. Đó là sắc thái tiêu biểu của văn hóa Việt Nam.

Trong dòng chảy của Thăng Long ngàn năm có sự đóng góp của châu thổ sông Mã, xứ Thanh từ những nền văn hóa tiền Thăng Long cho đến buổi định đô và cả nghìn năm văn hiến.

Từ buổi đầu tạo dựng văn minh, châu thổ sông Mã đã sớm trở thành một trong những cái nôi của văn hóa dân tộc. Cùng với châu thổ sông Hồng, châu thổ sông Mã với văn hóa Đông Sơn và tiền Đông Sơn đã góp phần vào bản anh hùng ca mở đầu lịch sử dựng nước và giữ nước đầu tiên của dân tộc.

Trong dòng chảy lịch sử ngàn năm Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội; châu thổ sông Mã, đất Cửu Chân, xứ Thanh đã có nhiều nguồn lực đóng góp vào sự phát triển Thăng Long để cùng với Thăng Long, thủ đô và cả nước hội nhập phát triển trong bối cảnh chung của thời đại và khu vực.

Nhân tài xứ Thanh từ võ tướng Lê Phụng Hiểu (đời Lý), Nhà sử học danh tiếng Lê Văn Hưu (đời Trần), Tiến sỹ Nho học, Tể tướng Nguyễn Quán Nho (đời hậu Lê)... cho đến nhưng vị hoàng đế khai sáng vương triều hậu Lê, văn võ song toàn đã lưu danh sử sách cùng với văn hóa Thăng Long. Con số hơn 100 vị Tiến sỹ Nho học thời hậu Lê được vinh danh trên bia Nghè Quốc Tử Giám Thăng Long đã khẳng định đóng góp của người xứ Thanh vào văn hiến Thăng Long.

Căn cứ địa Ái Châu (Thanh Hóa) trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên - Mông lần thứ hai đã góp phần quan trọng để vua tôi nhà Trần, quân dân Đại Việt tấn công quét sạch quân xâm lược ra khỏi đất nước.

Hào khí Lam Sơn, chiến thắng quân Minh xâm lược không chỉ là tâm gương để “muôn đời soi chung” mà còn để lại những dấu ấn văn hóa đậm nét trên kinh thành Đông Quan. Cho dù vật đổi sao dời thì huyền thoại trả gươm thần cho Long Vương và di tích hồ Hoàn Kiếm giữa Thăng Long mãi mãi tỏa sáng gắn liền với sự nghiệp của Lê Thái Tổ Lê Lợi - Người anh hùng giữa hai huyền thoại nhận gươm thần và trả gươm thiêng.

Thành Tây Đô (Thành Nhà Hồ) - một kiệt tác của văn hóa Thăng Long thời kỳ cực thịnh, được tạo dựng trên đất xứ Thanh không chỉ cho thấy sự mở rộng của trung tâm văn hóa Thăng Long mà còn khẳng định mối liên hệ lịch sử giữa xứ Thanh và Thăng Long trong kỷ nguyên của văn minh Đại Việt.

Nguồn đá quý và nghệ nhân xứ Thanh không chỉ góp phần tạo dựng những công trình văn hóa nổi tiếng trên đất Thăng Long ngàn năm mà còn vinh dự đóng góp vào việc xây dựng lăng Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại.

Trong “Chiếu dời đô” lịch sử cách đây vừa tròn một thiên niên kỷ, người sáng lập vương triều Lý đã “Tuyên ngôn” hai vấn đề lớn, có ý nghĩa với vận mệnh, tương lai của đất nước: Thăng Long ở trung tâm, giữa bốn phương đất nước; Định Đô là để mưu toan việc lớn, lâu dài.

Lịch sử ngàn năm của Thăng Long đã khẳng định vai trò, vị trí trung tâm của Thăng Long và văn hóa Thăng Long trong dòng chảy của lịch sử dân tộc. Các thế hệ người Việt đã đổ mồ hôi, xương máu để giữ gìn, xây dựng cho Thăng Long, thủ đô ngày một đàng hoàng hơn, to đẹp hơn, xứng đáng là trái tim của cả nước, thủ đô của những di sản văn hóa, để thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau “dù có đi bốn phương trời lòng vẫn nhớ về Hà Nội”, thủ đô của nước Việt Nam.

 

(1) Trần Quốc Vượng, Hà Nội như tôi hiểu, Nxb Tôn Giáo, năm 2005 tr 25 & 262.

(2), (3) Lý Công Uẩn, Chiếu dời đô. Nguồn: Thơ văn Lý Trần, Nxb KHXH, Hà Nội, năm 1977, tr 231.

Trần Thị Liên

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1


Dự báo thời tiết Thanh Hóa