GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Vị trạng nguyên cuối cùng trong lịch sử khoa bảng Việt Nam

Đăng lúc: 24/10/2018 14:00 (GMT+7)

- Trong lịch sử khoa bảng phong kiến, xứ Thanh có 242 vị tiến sĩ và một số trạng nguyên, mỗi người, mỗi tính cách, tài năng, đức độ, có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc dựng nước, giữ nước của dân tộc. Trịnh Tuệ là vị Trạng nguyên cuối cùng của Việt Nam.

Trịnh Tuệ (Trịnh Huệ) hiệu Tĩnh tâm Cư sĩ (1704 - ?) quê ở Biện Thượng (nay là xã Vĩnh Hùng, huyện Vĩnh Lộc), sau này dời về ẩn cư tại Bất Quần, nay là xã Quảng Thịnh, Quảng Xương xưa nay TP Thanh Hóa. Ông là vị Trạng nguyên cuối cùng trong lịch sử thi cử phong kiến Việt Nam.

Theo “Đại Việt sử ký toàn thư”, Lê Văn Thịnh là Trạng nguyên đầu tiên trong khoa thi đầu tiên của Nho học Việt Nam dưới thời nhà Lý. Đến thời nhà Nguyễn, không lấy danh hiệu Trạng nguyên (danh hiệu đỗ đạt cao nhất thời bấy giờ là Đình nguyên). Do đó, Trạng nguyên cuối cùng trong lịch sử khoa bảng nước nhà là Trịnh Tuệ đỗ khoa Bính Thìn (1736).

 Nhà thờ Trịnh Tuệ núi Voi, xã Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa.jpg

Nhà thờ Trịnh Tuệ (núi Voi, xã Quảng Thịnh, TP Thanh Hóa).

Ông xuất thân từ dòng dõi nhà Chúa, tuy vậy gia cảnh lại nghèo, cha ông đã chuyển từ Vĩnh Lộc về đất Quảng Xương, rồi dời về làng Ngọc Am, xã Bất Quần, dưới chân núi Voi, sinh sống. Gia đình Trịnh Huệ có nhiều người đỗ đạt, anh ruột là Trịnh Côn cùng các con ông là Trịnh Đức, Trịnh Sa cũng đỗ Hương cống và làm quan dưới triều Lê - Trịnh (Theo “Trịnh Vương ngọc phả”).

Sinh thời, ông là người tài trí, thông minh, đức cần mẫn, luôn có ý chí dùi mài kinh sử mong có tên trên bảng vàng. Là người thực học, thực tài nên ông không dừng lại ở hiểu biết trong sách vở, ghét lối học từ chương sáo.

Năm Bảo Thái thứ tư đời vua Lê Dụ Tông (1723) Trịnh Tuệ thi hương lần đầu và đỗ Hương cống, được chúa Trịnh mời vào cung Tân Nhân giao giữ chức Phó Tri Hình Phiên. Tại khoa thi năm Bính Thìn đời vua Lý Ý Tông (1736) ông đỗ Trạng nguyên, rồi kinh qua nhiều chức vụ từ Sơn Nam thừa Chánh sứ, rồi thăng Hình Bộ Thượng thư, vài năm sau được thăng chức Nhập Nội Tham tụng (ngang chức Tể tướng).

Trịnh Tuệ vốn nổi tiếng thông minh, hiếu học, ham tìm tòi, thế nhưng giữa thời kỳ việc gian lận trong thi cử trở nên trầm trọng, nhiều người bỏ tiền chạy hư danh, rất ít thực học, thực tài... Khoa cử mất đi kỷ cương, nền nếp, khó chọn lựa hiền tài. Do xuất thân dòng dõi nhà Chúa, Trịnh Huệ trở thành tâm điểm trong sự ghen ghét, đố kỵ, nhiều người thời đó không công nhận tài năng của ông.

Giai thoại văn học kể rằng: “Để chứng minh tài năng của mình, Trịnh Tuệ tuyên bố sẽ trả lời tất cả những câu hỏi khó ở bất cứ sách nào về kinh, sử, y học, lý số...”

Mọi người tranh nhau hỏi, nhưng bị thuyết phục bởi tài năng học rộng tài cao của ông.

Có người hỏi ông “Chiếc đũa là vật thiêng không có chân lúc nào thì gãy, lúc nào thì mất, vậy nó chạy đi đâu? ở chỗ nào?. Trịnh Tuệ mỉm cười, trả lời bằng 2 câu thơ: “Trời còn giành để An Nam mượn, Vạch chước binh Ngô mãi mới vừa.”

Rồi ông tiếp: “Đó chẳng phải là câu thơ của vua Lê Thánh Tông bản Triều Vịnh núi chiếc đũa ở Thanh Hóa nơi khởi phát để nghiệp mở ra công cuộc bình Ngô của nước ta hay sao? Núi chiếc đũa không có chân mà chạy về góc đó” (ngọn núi tên chữ Chích Trợ Sơn, gọi nôm là núi chiếc Đũa, thuộc làng Văn Đức, xã Nga Phú, Nga Sơn), một số vua chúa từng có thơ đề ngọn núi này...

Sử chép, năm 1740, chúa Trịnh Doanh một lần nghi ngờ ông về phe với Hoàng Công Phụ phản loạn và bắt giam vào ngục. Một năm sau Chúa xét ông bị oan, đồng thời phong ông làm Tế tửu Quốc tử giám.

Về già, ông ẩn cư tại chân núi Voi, mở lớp dạy học tại quê nhà, học trò theo học rất đông, nhiều người đỗ đạt làm quan. Khi ông mất, học trò đã dựng nhà thờ ông ngay dưới chân núi Voi.

Trạng nguyên Trịnh Tuệ còn là nhà văn, nhà thơ, một nhà triết học đầu thế kỷ XVIII. Ông là tác giả bài luận thuyết về “Tam giáo”, cùng với Bảng nhãn Hà Tông Huân soạn văn bia “Khánh nguyên kỳ bi ký” dựng năm Cảnh Hưng thứ XIII (1752) để ghi công tích của Quy Triều hầu là người có công với nước, khi mất được truy phong là Đô đốc trụ quốc thượng tướng quân (người huyện Hưng Hà, Thái Bình).

Trung Lê

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1