GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 6: Cói Lác Thanh Hóa

Đăng lúc: 05/12/2018 12:00 (GMT+7)

- “Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng...” câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu khiến người ta quên mất, Thanh Hóa có một vùng quê cói lác khá lâu đời. Thời Lê Trung Hưng, chiếu huyện Quảng Xương triều đình đã thu thuế, sang triều Nguyễn mức thuế ấn định cụ thể, không còn là thuế hàng chuyến đánh thuế qua tuần ty bến Mỹ Cảnh hay ngã ba Ngung.

Chiếu Nga Sơn ra đời đầu thế kỷ XX sau khi người Bắc (Ninh Bình, Nam Định) đem giống cói Kim Tân, Phát Diệm vào trồng trên đất bãi Tam Tổng do biển bồi lấp. Bởi đất tốt, cây cói trắng bong, cao tốt, dệt chiếu rất đẹp. Nhưng cói Tam Tổng Nga Sơn cũng có nhược điểm như con gái nhà giàu thời xưa óng ả mà yếu ớt, lá chiếu dựng lên khó đứng vững. Nhà giàu thuê thợ sản xuất chiếu hàng hóa, sợi đay nhỏ, chiếu dùng không bền dễ bị đứt thủng, chóng hỏng, phí cả lá chiếu đẹp.

Chiếu Quảng Xương là chiếu gia dụng dùng bền vì cây lác mọc trên đất phù sa cổ nghèo đạm, lân, ka li, đanh cây, chắc thịt. Lá chiếu sợi đay xe đậm, cây lác không mềm, trông mặt chiếu hơi thô. Sách Đại Nam nhất thống chí đời Tự Đức chép rõ ngạch thuế sản vật huyện Quảng Xương nộp thuế chiếu trơn. Như vậy huyện Quảng Xương ngoài loại chiếu trắng trơn hàng hóa, còn mấy loại chiếu dùng cũng rất bền nhưng không được đẹp màu chẳng bởi tay người, chủ yếu do cây cói xấu quyết định.

Chiếu Quảng Xương dệt bằng cây lác (cói) Quảng Xương, mọc bạt ngàn từ bến đò Ghép lên đến trung, thượng lưu trên đất bãi sông Yên, nhiều bùn lầy, thủy triều lên đến đâu cây lác mọc đến đó, nhưng càng thưa dần vì ven sông không còn mấy tỉ đồng sác thủy triều.

 Thu hoạch cói ở Quảng Xương.jpg

Thu hoạch cói ở Quảng Xương. (Ảnh: Lại Diễn Đàm)

Trước kia, cách bến đò Ghép khoảng gần 10km, có bến đò Trún của làng Trún, tên nôm làng Bình Nậu (nay thuộc xã Quảng Phúc). Một ông đò nho xứ Nghệ từ bên huyện Tĩnh Gia đi qua đò Trún ngồi nghỉ ở quán nước, ngắm cánh đồng lác bao la xanh ngắt, đề tặng đôi câu đối (viết vào giấy bản dán lên cột quán nước):

Bồ thành biệt chiếm càn khôn hãm

Tế độ hoành nghênh tuế nguyệt trường

(Nghĩa là: Rừng cói dựng lên chiếm riêng một cõi thu hẹp cả đất trời. Con đò ngang đưa đón khách mãi cùng năm tháng).

Cây lác vốn mọc hoang trên đồng sác thủy triều ven sông Ghép. Từ “lác” cổ hơn từ “cói”, âm “l” của “lác” cũng bởi âm “s” của “sác” mà ra. Nói thế, có nghĩa thời cổ âm “s” và âm “l” cũng na ná như nhau, cho nên từ lạc điền là ruộng sác, từ tố lạc là từ tố sác (xem bài “Lạc điền là gì?”).

Vấn đề cải tạo cây lác mọc hoang đồng sác thành cây lác thuần dưỡng mang lại nhiều ích lợi, có giá trị kinh tế cao để dệt nên lá chiếu hàng hóa được tiêu thụ trong ngoài tỉnh chắc chắn không dễ dàng chút nào. Cư dân ven sông Ghép, các làng từ Ngọc  Giáp, Ngọc Trà lên đến Ngọc Bồn, Ngọc Đới, nếu sử dụng cây lác tự nhiên, chỉ sản xuất được những đồ vật nguyên liệu là cây lác ngắn chừng 1m, như: Ró, bị, đệm, áo buồm, võng... Cây lác phải được trồng cây lại như trồng cấy lúa trên đất hẩu.

Nghề trồng lác có thể đem lại lợi nhuận hơn nghề trồng lúa, nhưng về sức lao động phải bỏ ra, trồng lúa không vất vả bằng trồng lác:

Trời sinh cây lác làm chi

Để cho kẻ khó phải đi lam làm!

(Ca dao dân gian)

Đất trồng lác phải dọn sạch cỏ khi nước thủy triều xuống cạn rặc. Dọn sạch cỏ rồi cuốc xới đảo trộn bùn đất, như vỡ hoang cuốc ruộng. Công việc tiến hành vào tháng 2 âm lịch. Chờ ít hôm cỏ bị thối hết rễ, bùn đất ngấu, người ta đào bấng lác ở ruộng cũ trồng cắm xuống ruộng mới. Nhờ đất mới chất đất phù sa tốt, cây cói chóng bén rễ lên xanh. Phải chờ đến tháng 7 âm lịch năm sau, mới thu hoạch được vụ đầu mùa lác. Cây lác khác cây lúa, mỗi năm một vụ, theo kỹ thuật canh tác truyền thống không nhổ cỏ bón phân như lúa. Tuy nhiên, mấy năm đầu, năng suất lác còn thấp, khoảng từ năm thứ tư, thứ năm, sản lượng lác mới tăng dần lên. Nhưng đến năm thứ bảy, thứ tám, sau khi năng suất đạt tới đỉnh điểm, cây lác bắt đầu giảm dần sản lượng rồi chuyển sang giai đoạn tàn lụi. Đó là vòng đời của cây lác. Ở môi trường tự nhiên, nó cũng như vậy, từ gốc cây lác già cỗi, lớp trẻ lại sinh ra trong điều kiện bùn đất nghèo hơn chất màu, không thể cứ thế cây lác xanh tốt mãi.

Khi cây lác già cỗi, người ta đảo đất và thay giống lác. Đảo đất là chờ nước thủy triều xuống, người ta đào bấng gốc lác cũ bỏ đi, cuốc xới trộn lớp dưới lên lớp trên để đón chất đất phù sa mới và làm thối rễ lác cũ tạo thành một thứ phân bón, giúp cho đất già cỗi trẻ lại. Thay giống là cách tốt nhất để phục tráng nòi giống cây lác. Người ta đào bấng giống lác trẻ nơi khác đem về trồng.

Môi trường cây lác là nước thủy triều có độ muối mặn thích hợp. Mặn quá, cây lác không xanh tốt. Nhạt quá cây lác bị còi cọc. Đồng sác muốn trồng lác phải khoanh vùng đắp đê, tránh mùa mưa lũ nước ngọt từ thượng nguồn đổ về ảnh hưởng không tốt đến đời sống cây lác. Sau nhiều năm trồng lác, chất mặn trong bùn đất bị dã cây lác có hiện tượng còi cọc, người ta cho đất tạm nghỉ ít năm để lấy lại “sức” hoặc chuyển sang trồng lúa. Nhiều diện tích lác ở Ngọc Trà, Văn Giáo, Bình Nậu, Ngọc Nhị, Ngọc Bồn, Ngọc Đới... chuyển sang trồng lúa với một số giống đặc biệt thích hợp.

Giống lúa đồng triều, đồng sác, cấy ngoài đê lớn thường chịu ảnh hưởng nước thủy triều từ biển lên và nước lũ ngập thượng nguồn đổ xuống. Nó phải chịu được chua mặn pha ngọt, thường gọi nước lợ. Đó là thông giờ,  cờn râu, bát, chiêm ếch, điền địa, rua, vượt nước, hạt tiêu...

(Những năm gần đây mấy xã Quảng Chính, Quảng Trung gần bến Ghép chuyển hàng trăm ha đồng sác sang nuôi tôm, nuôi cua... doanh thu cũng tốt).

So với vùng đất bồi phù sa mới Tam Tổng (Nga Sơn) đồng lác ven sông Ghép (chủ yếu phía Tả ngạn đất phù sa cổ kém màu mỡ hơn. Trong số diện tích đồng sác bao la trời đất, trước năm 1945, mấy nghìn ha, chỉ khai thác được chừng vài trăm mẫu ta, còn lại bỏ hoang hóa.

Sau năm 1955, được ngành nông nghiệp đầu tư kỹ thuật, cây lác phục tráng khá tốt, bằng cách bón phân vô cơ theo tỷ lệ nhất định, mỗi năm từ một vụ chuyển thành hai vụ. Lác vụ chiêm năng suất thấp, vụ mùa năng suất cao. Một số diện tích đồng cói dã mặn bì còi cọc, nông dân các xã Quảng Vọng, Quảng Phúc đắp đê quai tròng lúa năng suất ổn định. Nông dân hai xã này vừa trồng lúa vừa trồng lác, lao động tuy vất vả nhưng đời sống khấm khá hơn trước nhiều. Chị em phụ nữ có sức khỏe siêng năng chịu khó ngày ngày tay cầm nhằm tre, lưng đeo giỏ ra đồng lác bắt con cáy, con tôm, con nha, con rạm... đủ cải thiện bữa ăn khỏi mất tiền mua.

Ngày trước sản phẩm cây lác làm ra nhiều đồ vật thô sơ nhưng thiết thực: cái bị đeo vai, cái đệm đậy thúng, mủng, cái áo buồm cho người nghèo mặc chống rét mùa đông phải lao động dưới đồng nước...

Đặc biệt cái võng lác tận dụng lác xấu khéo bện thành võng đung đưa, nhà nào cũng mua, trẻ già đều ưa thích. Trước đây trong vùng, làng Sòng chuyên nghề bện võng, và võng lác làng Sòng bán khắp các chợ quê, trở thành một “thương hiệu” độc đáo.

Người làng Sòng mua lác đàn (lác xấu, không chẻ) ngoài các chợ Hội, chợ Trường, chợ Vàng về bện võng. Cây lác phải dùng dùi đục đập bẹp từ ngọn chí gốc, giũ sạch vỏ gốc, sợi loại, phơi nắng khô vừa, bó lại thành “gồi” gác lên dùng dần, giữ cây lác luôn khô ráo. Khi bện võng, lấy “gồi” lác xuống, chia ra từng bó nhúng nước mềm để tiện dùng. Tuy là vật dụng thô sơ, bện võng hay đan võng cũng phải khéo tay có kỹ thuật, cái võng mới bền và đẹp.

Chiếc võng đạt yêu cầu, mười dây đều cả mười, các mắt võng to nhỏ hình thoi vừa khéo, mở tung ra cánh rộng, mép căng “tồng” sâu, ngồi xuống võng ôm khít lấy mông không sợ ngã. Lúc nằm cánh võng dang ra khéo léo, nhẹ nhàng, êm ái như cánh tay ôm đỡ lấy người, đủ chỗ cho cả đôi vợ chồng trẻ. Võng lác làm nôi cho trẻ, để bà ru cháu, mẹ ru con, chị ru em...

Võng lác so với võng đay, võng dù, kém thua xa về hình thức, về giá trị tiền bạc, nhưng nằm võng lác khoan khoái dễ chịu hơn nhiều. Mùa hè, người ta có thể nằm ngủ suốt đêm trên võng lác.

“Đố ai lên võng đừng đưa...” khi cây quạt máy chạy vù vù, tiếng võng lác đưa kẽo kẹt trưa hè vĩnh viễn lui vào dĩ vãng, còn chăng chỉ là mấy gốc tre già gió đưa ken két, rời rạc, buồn tênh. Rất may, số phận lá chiếu lác chưa bị tấm chiếu trúc thay thế, để rừng lác ven sông Ghép vẫn “Bồ thành biệt chiếm càn khôn hãm”...

Hoàng Tuấn Phổ

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1