GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 4: Nghề đan Quảng Phong

Đăng lúc: 21/11/2018 15:00 (GMT+7)

- Cách đây hơn 400 năm, vùng đất xã Quảng Đức, bên cạnh xã Quảng Phong (Quảng Xương) ngày nay còn hoang vu, cây cỏ rậm như rừng, cồn cao bái thấp nhấp nhô đầy gai góc, những đầm hố sâu trũng chỉ thấy xanh rì cỏ năn, cỏ lác.

Sau chiến tranh Lê - Mạc (1595) chung quanh đất này đã có một số làng tương đối cư trú ổn định, phía nam: Phú Đa, phía bắc: Tiền Thịnh, đằng tây: Đông Thôn, đằng đông: Hà Trung. Một ông già, không ai biết từ đâu đến xin quan lại địa phương cho cư trú tại Cồn Cao rậm rạp, nơi mọc hoang dã rất nhiều chòm tre, cây kè, xen lẫn bụi mây quấn quýt um tùm và gai góc, cỏ dại bịt bùng, không có dấu chân người. Ông già tự tay phát hoang rậm, đốn tre, giật kè, bứt mây... dựng lên một túp lều để ở rồi dùng chính những thứ cây sẵn có ấy để đan thúng, mủng, rổ, rá, kết nơm, bện nhủi, may áo tơi... Ông già rất khéo tay, không cái gì không làm được và làm rất đẹp, đem đi chợ bán, vật gì cũng đắt khách. Nhờ vậy đời sống hàng ngày, ông được dư dật. Tên ông là Vệ, nên nơi ông ở người ta gọi là Bái Vệ. Qua một thời gian, khoảng vài chục năm, ông Vệ đi đâu không ai rõ.

Năm Đinh Tỵ (1677) nhà Mạc xây dựng căn cứ ở Cao Bằng bị tiêu diệt, Kính Vũ chạy trốn sang Long Châu (Trung Quốc), họ hàng, quan quân tán loạn. Có người thuộc dòng họ tôn thất là Mạc Phúc Thiện đem gia quyến chạy trốn một mạch từ Cao Bằng vào Thanh Hóa, đổi họ Mạc sang họ Phạm, để che mắt chính quyền sở tại. Phạm Phúc Thiện khai là con ông già Vệ xin cư trú tại Bái Vệ đất cũ và bắt đầu gây dựng cơ nghiệp từ đó.

Bấy giờ một nhà họ Trần ở Phú Đa, gần Bái Vệ, thấy gia đình ông Phạm Phúc Thiện làm ăn dễ sinh sống, có đất trồng lúa, trồng màu, gà, vịt đầy đàn, lại thêm nghề đan lát rổ, rá, đánh cá đồng... cũng tính chuyện di dời đến ở. Đó là ông Trần Phúc Lương, sau trở thành khởi tổ chi họ Trần ở thôn Quang Tiền, xã Quảng Đức. Đến đời các cháu ông Phạm Phúc Thiện và ông Phạm Phúc Lương, hai gia đình đã phát triển đông đúc, làm ăn sung túc. Họ Trần cũng học cách làm ăn của họ Phạm, cuộc sống có láng giềng. Kết thân bè bạn càng thêm vui vẻ. Nhưng chưa đủ số hộ để xin lập một ấp. Họ rủ thêm con cháu họ Đinh cũng người Phú Đa đến ở Bái Vệ, cộng lại được gần 10 hộ với 50 nhân khẩu, làm giấy tờ xin chính quyền cho lập ấp Vệ giữa có đủ “chấp bằng địa bạ” (giấy chứng nhận ruộng đất và thổ cư do cấp có thẩm quyền cấp). Tuy chỉ là một ấp nhỏ, họ cũng dựng miếu xây chùa, buổi đầu thờ lộ thiên thần Quý Minh, con trai vua Hùng, Phật bà Quan Thế Âm, đặt cơ sở cho một làng xã trong tương lai.

Họ Phạm có chí làm giàu, có cả trí làm quan, không chịu quanh quẩn chốn đồng quê. Con cháu đua nhau đi học, đi lính để phấn đấu làm quan văn, quan võ. Những người có cơ may được làm quan ở đâu, tìm cách ở lại đó. Số hộ khẩu họ Phạm ở Vệ Giữa do đó ngày càng ít đi, trong khi người họ Trần, họ Đinh phát triển thêm đông. Tuy nhiên, ở Vệ Giữa, họ Phạm vẫn cậy thế thần coi thường họ Trần, họ Đinh. Họ Đinh tức khí, lấy thế lực đông người, trong một đêm chuyển ngôi chùa đi chỗ khác để làm loạn hướng mộ tổ họ Phạm (theo thuyết địa lý phong thủy) khiến họ Phạm mất đất làm quan. Từ đó, hai họ sinh hiềm thù. Họ Đinh không chống nổi họ Phạm, phải bỏ Vệ Giữa ra ở phía bắc thôn Tiền Thịnh, xin lập ấp Hậu Vệ kề thôn Tiền Vệ.

Đầu thế kỷ XVIII, ấp Vệ Giữa đã thành thôn Vệ Trung, chỉ còn họ Trần và họ Phạm với số nhân khẩu trên 100 người. Năm Kỷ Dậu (1789) quân Tây Sơn đánh bại giặc Mãn Thanh, nhà Lê mất. Quang Trung thâu tóm cả Bắc Hà. Con cháu nhà Lê và quan, tướng trung thành với nhà Lê, nổi dậy chống lại tân triều, bị đàn áp dữ dội, việc bắt bớ tràn lan khắp nơi. Họ Phạm và họ Trần sợ bị vạ lây, phải đem “chấp bằng địa bạ” sang làng Phú Đa ẩn lánh. Được dân làng Phú Đa che chở, người Vệ Trung sống yên ổn qua ngày. Quân Tây Sơn thấy Vệ Trung làng xóm hoang tàn, nhà cửa đổ nát, đồng ruộng xác xơ, khắp nơi hang cáo, ổ chuột... cũng thôi không dòm ngó.

Mười hai năm sau (1802) nhà Nguyễn diệt nhà Tây Sơn, Gia Long ban lệnh cho phép dân chúng chạy loạn được hồi cư. Họ Phạm và họ Trần lại trở về Vệ Trung. Một số người họ Phạm liên quan với nhà Lê, phải trốn tránh các nơi, cũng tìm về quê cũ. Sau cơn hoạn nạn hai họ càng thân tình, dốc sức một lòng khôi phục lại xóm làng. Ngoài công việc chính đồng áng nghề đan lại tiếp tục trong lúc nông nhàn, chợ búa, trầu chè có đồng ra đồng vào. Chẳng bao lâu Vệ Trung thành làng thôn có tiếng trù phú trong tổng, xã. Bấy giờ ông Mai Bá Đễ ở Đông Thôn (tức Đông Đa) thấy Vệ Trung là đất dễ làm ăn, xin chuyển gia đình  đến nhập cư. Họ Phạm, họ Trần nghĩ thêm họ Mai càng đông vui, sẵn lòng giúp đỡ. Trong đám con cái đông đúc của mình, Mai Bá Đễ có 3 người con gái đến tuổi lấy chồng. Ông đem ba người gả chồng, hai đứa về họ Phạm, một đứa về họ Trần, để kết tình thân. Kỳ thực mưu đồ của ông là dụ dỗ ba chàng rể tìm cách lấy “chấp bằng địa bạ” cho bố vợ đứng ra lập thôn mới theo chủ trương nhà Nguyễn. Nhưng ba chàng rể không phục, vì biết lòng dạ ông bố vợ muốn thu lấy quyền lợi về họ Mai. Họ liên kết cùng nhau đứng ra thành lập Trung Thôn. Từ đó, chàng rể với ông gia sinh thù hằn. Cả ba người đồng lòng đuổi ông bố vợ có mưu mô xấu về Đông Thôn nhưng ông không chịu.

Qua đời Mai Bá Đễ, sự oán ghét, hằn học của con cháu họ Trần, họ Phạm đối với con cháu họ Mai lắng dịu dần, tuy nhiên, Trung Thôn do người họ Phạm và họ Trần cai quản, chỉ coi con cháu họ Mai là dân ngụ cư. Họ Mai thành ra “một quê hai quán”: Trung Thôn là trú quán, còn Đông Thôn là chánh quán, đều chung tổng Thái Lai. Vì thế, họ Mai phải chịu đóng phú thuế, sưu dịch, lệ làng cả hai nơi. Các gia đình họ Mai đều bấm bụng gánh vác từ đời Minh Mạng sang Thiệu Trị, Tự Đức... đến đời Thành Thái (khoảng 80 năm) mới thoát nạn “một cổ đôi tròng” được Trung Thôn công nhận làm dân nội tịch.

Đời Tự Đức (1848 - 1883), ông Phạm Phúc Tính ở thôn Hà Trung (phía đông Trung Thôn) làm ăn khó khăn, chuyển gia đình lên Trung Thôn. Họ Phạm Phúc đứng đầu Trung Thôn bắt họ Phạm Phúc Hà Trung phải đổi họ để tránh lầm lẫn sau này. Ông Phạm Phúc Tính bằng lòng đổi họ Phạm sang họ Phan. Họ Phạm Phúc cắt đất cho gia đình ông Tính (mang họ Phan mới) ra ở phía bắc, gần thôn Tiền Thịnh để giữ địa giới cho Trung Thôn. Ông Nghiêm họ Phạm Công không phải đổi họ. Tiếp theo, một gia đình họ Đinh ở ngoài tỉnh Sơn Tây vào xin định cư. Trung Thôn còn phát triển thêm họ Lê, họ Hoàng, họ Nguyễn, họ Trịnh, nhưng từ lâu đã không còn rõ gốc tích họ từ đâu đến. Chỉ biết họ Nguyễn được ở Bái Cốc để giữ đất cho Trung Thôn. Đời Khải Định (1916 - 1924) họ này bỏ Trung Thôn nhập thôn Tiền Thịnh. Con cháu họ Lê, họ Trịnh, họ Hoàng vì đói khổ và dịch bệnh, dần dần chết hết. Năm Đồng Khánh thứ ba (1888) Trung Thôn có các cửa họ: Phạm Phúc, Trần Phúc, Phan Phúc, Mai Bá, Phạm Công, Đặng, Nguyễn, dân số toàn thôn 326 người (theo số liệu thống kê bấy giờ báo cáo lên triều đình qua huyện, tỉnh). Họ Phạm Phúc chăm chỉ, khôn khéo, biết cách làm ăn, đông người nhiều ruộng nhất thôn, nhưng rồi đất không đủ ở, ruộng không đủ cày, một số gia đình chuyển đi nơi khác lập nghiệp. Họ khai hoang vỡ rậm, mở trại, lập ấp rồi dựng lên làng xóm mới: Mỹ Lâm (nay thuộc xã Quảng Đại), Phạm Lĩnh (nay thuộc xã Quảng Ninh), Lan Thôn (nay thuộc xã Các Sơn, huyện Tĩnh Gia).

 Nghề đan lát.jpg

Nghề đan lát. (Ảnh: N.H)

Nghề đan tre mây gốc ở Vệ Giữa Trung Thôn, truyền sang các làng Phú Đa, Đông Đa, Ước Ngoại, Bái Trung... nay thuộc xã Quảng Đức, xã Quảng Phong, huyện Quảng Xương, về sau phát triển mạnh hơn ở mấy làng xã Quảng Phong.

Tay cầm dao mác, nắm nan

Em nức rổ rá, anh đan giần sàng

Ngồi cùng, miệng nói tay làm

Mùng năm đầu tháng bày hàng chợ Hôm

Khéo tay Đa Lộc, Đòng Thôn

Người mua khen nức tiếng đồn gần xa.

Nghề đan vào lúc nông nhàn, tranh thủ cả buổi trưa, buổi tối. Các cụ già bản tính siêng năng, tối tối hai ba nhà đến với nhau uống nước chè xanh ngồi đan lát, trò chuyện đến khuya. Các em nhỏ ra đồng bái chăn thả trâu cũng mang theo nắm nan, hai tay nhanh thoăn thoắt đan giần, sàng.

Gái Thái Lan, trai Quang Tiền

Ngày đi lang, lúa, tối viền mới đan

Khéo tay thúng, mủng, giần sàng

Vụng đần thì phải đa mang vảy, gầu.

Hàng đan xong xếp vào lò hun xông khói, tạo thành màu bồ hóng rất đẹp. Hàng đan tre mây Quảng Phong một thời xuất sang Âu Châu rất được ưa chuộng, các chuyên gia sang Việt Nam đến tận nơi tham quan đều khen ngợi về kỹ thuật và mỹ thuật, cho đây là một sáng kiến tuyệt vời:

Cổng Cầu có nước nhúng mây

Hồ Tây có tre nắn cạp

Sân nhà có đắp lò hun

So màu bồ hóng, bồ hòn kém xa

(Ca dao dân gian)

Hoàng Tuấn Phổ

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1