GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 2: Vùng đất Cầu Quan

Đăng lúc: 07/11/2018 12:00 (GMT+7)

- Vùng đất Cầu Quan, theo dã sử, hồi đầu công nguyên là xứ Côn Mang (Côn Mang chi địa). Những người đầu tiên cư trú ở đây quây quần trên núi Mưng, quanh núi Mưng. Núi Mưng trong thực tế là một quả đồi đất đỏ thấp nhỏ nằm ngay bên bờ sông Lãng Giang. Sườn núi dốc thoai thoải, gồm đất đỏ xen lẫn đá ba gian. Đất đỏ trồng cây tốt. Đá ba gian làm vật liệu xây tường nhà và chế tác công cụ, vật liệu lý tưởng của người tối cổ. Chân núi phía đông kéo dài đến 1km là đất cư trú của làng Mưng và làng Cáo, thời Lê đã có tên trong sách vở và truyền văn. Cư dân núi Mưng cắm đất tụ cư ở đây đủ điều kiện sinh sống thuận lợi, trồng lúa nước, làm nương rẫy, đánh cá sông và lên Ngàn Nưa thu hái lâm sản.

Thời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành đem quân đánh Chiêm Thành, hành quân qua Thanh Hóa, từ huyện Yên Định đến huyện Nông Cống, đường đi vất vả, hai bên đường đất đai màu mỡ còn bỏ hoang rậm nhiều. Thắng lợi trở về, vua sai mở đường thủy từ Yên Định, qua Nông Cống đến sông Hoàng nay là sông Yên. Sông Lãng Giang nằm trong hệ thống kênh đào nhà Lê ấy và phải chăng vùng đất Cầu Quan được khai thác theo chủ trương vua Tiền Lê, qua Lý, Trần đến Hậu Lê, hình thành hai xã Thanh Nê, Tử Nê ở đôi bờ Lãng Giang nay là xã Trung Chính, Trung Thành?

Đầu thế kỷ XVIII, vùng Cầu Quan đã có: Thôn Thị, thôn Sở, thôn Tống Công, thôn Cầu Mao, thôn Đông, thôn Côn Mừng, thôn Cáo, thôn Lương Mộng.

Thôn Thị: Tục gọi làng Chợ. Làng lập trên cơ sở ban đầu là những người đến ở chung quanh chợ Cầu Quan để mở hàng quán và buôn thúng bán mẹt.

Cầu Quan vốn chỉ là một địa danh hẹp, từ địa danh hẹp, tên gọi chiếc cầu do quan chức nhà nước bắc trên đường tỉnh lộ nối đôi bờ Lãng Giang vào châu lỵ Như Xuân. Sau này Cầu Quan trở thành một địa danh rộng, nhân dân dùng để chỉ vùng đất bao trùm hai xã tám thôn, cả khúc sông Lãng chảy qua cũng gọi sông Cầu Quan.

Đông Cao: Cuối thế kỷ XVIII, cháu 9 đời của Đinh Lễ là Đinh Văn Chuyên nhờ di ấm của cha là Đinh Văn Giám, được vua cho cắm đất lộc điền, lập lên làng Đông Cao cùng với thôn Thị, sau đổi tên Bi Kiều (Đại Việt thông sử).

Thôn Sở: Huyện lỵ Nông Cống xây dựng trên đất thôn Tống Công. Nhưng gia quyến quan lại binh lính cư trú xung quanh huyện đường, lâu dần họp thành thôn riêng (thôn Sở). Vì thế Sở thôn chỉ có thổ cư, không có điền địa, người dân chủ yếu sống bằng các nghề vặt. Và Thị Thôn bị bao vây ba bề bốn bên, không có khả năng phát triển đinh điền như các thôn làng khác.

Thôn Tống Công: Thôn này vốn xưa trải dài bên bờ bắc sông Lãng, diện tích tương đối rộng, phải nhường dần cho đường sá mở rộng, phố xá nối dài, huyện đường dựng lên, thôn Sở (nói trên) thành lập, cho nên dân làng ăn ở chật hẹp, chỉ còn ruộng đất ngoài đồng.

Thôn Cầu Mao: Địa danh Cầu Mao có ghi trong “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” (NXB Khoa học xã hội). Chữ “Cầu” là cây cầu bắc qua sông (chữ Hán: Kiều), chữ “Mao” tức “Mau”, một thân đất sâu, đầy bùn nước (không phải ao, ruộng). Mau cũng nghĩa như hồ, kiến tạo do đê vỡ từ thuở chưa mở ấp lập làng. Cầu Mao là địa danh nói rõ đặc điểm của thôn: Đầu làng cây cầu (Cầu Quan) cuối làng là cái mau nước.

Thôn Thượng: Cuối thế kỷ XVIII (khoảng cuối đời Lê Hiển Tông) cùng thời gian Đinh Văn Chuyên được hưởng ấm phong đất Đông Cao, cháu đời thứ 9 công thần Lê Hiển cũng được hưởng ấm phong đất phía trên Cầu Mao, đặt tên thôn Thượng, còn gọi là Thượng Cầu Mao. Làng chia hai giáp: Phía gần cầu (Cầu Quan) là Cầu Giáp, bên trên mau nước là Mao Giáp. Nhưng Cầu Giáp là giáp nhất lập đầu tiên, nên người Cầu Giáp giữ việc cai quản “nội hương ấp ngoại đồng điền”.

Thôn Đông: Vốn là thôn Đống trong hệ thống các xóm Đống dọc bờ sông Lãng phía trên thôn Thượng: Đống Sông, Đống Bằng, Đống Cái, Đống Cao... Khi khai báo “Đống” chuyển âm “Đông”: Đống Sông thành Đông Thành Hà, Đống Cái thành Đông Cải, Đống Bằng là Đông Bằng, Đống Cao là Đông Cao. Đống ở đây là gò, đống nguồn gốc từ thời Lê Đại Hành đào sửa sông Lãng đắp lên. Đống Sông do địa thế rộng rãi, thuận lợi được dân khai thác trước, thành ngôi làng lớn.

Làng Ty: Thôn Đông do lớn quá (trong hệ thống Đống) chia đất lập làng Ty. Chẳng bao lâu làng Ty trở thành thiếu đất, một số dân cư vượt sông Lãng sang bờ nam lập lên làng Múng.

Làng Múng: Vì ở bờ Nam sông Lãng là xã Tử Nê, làng Múng phải gia nhập xã Tử Nê, địa phương có núi Múng đất đỏ ba zan. Tuy vậy, làng Múng vẫn quan hệ thân thiết ruột rà với làng Ty, làng Đông như cành em út của ba cành sông một gốc. Họ bắc một chiếc cầu tre - cầu Ty - lắt lẻo qua sông nối ba làng: Đông - Ty - Múng, nối tình anh em “con một cha, nhà một nóc”.

Thôn Mưng: Mưng là một làng rất cổ ở vùng này. Ban đầu người ta cư trú trên núi Mưng, sau dần dà tràn xuống mảnh đất bằng ven sông. Sách “Tên làng xã Việt Nam đầu thế kỷ XIX” chép rõ hai chữ “Côn Mừng”, một địa danh nửa Hán nửa Nôm. Quá trình thay đổi địa danh này đều có lý do, ban đầu là “Côn Mang, đổi lại“ Côn Minh, bởi đời vua Minh Mệnh kiêng húy phải đọc chệch “Minh” thành “Mừng” - Côn Mừng. Nhưng tên Côn Mang hay Côn Mừng đều không đẹp, mới sửa lại Côn Sơn. Dân gian vẫn dùng cái tên dân dã “làng Mưng” của họ.

Làng Cáo: Cái tên nghe rất lạ, nhưng thật dễ hiểu khi ta biết từ “cáo” cũng như từ “cấu” là gạo, tiếng Việt cổ. Ở đây trước kia đầu làng có nhiều cây gạo cổ thụ, tháng tư âm lịch hoa đỏ rực trời. Tiếng Việt cổ phổ biến vùng Nông Cống cấu hay cáo là gạo. Cây Cáo cũng là cây gạo. Địa danh Cáo thôn trong sách vở, đậm đà sắc thái địa phương và giàu ý nghĩa tu từ học khi cổ nhân dùng đặt tên cho một làng quê chuyên canh cây lúa nước. Về sau, người ta vì lý do nào đó không rõ, (tên nghe không hay chăng?) đổi là An Cảo rồi Yên Quả.

Cũng như vậy, làng Múng chuyển âm “Múng” thành “Mộng”, thêm từ “Lương” - thôn Lương Mộng nghĩa là giấc mơ lành. Cái tên chữ Hán hay và đẹp. Nhưng nhân dân vẫn gọi bằng cái tên dân dã: “Múng”.

Thôn Yên Thượng: Do yêu cầu mở rộng đất đai canh tác, người xã Tử Nê ngược lên phía tây nam gần chân núi Nưa lập ấp Yên Thượng, dân cư phát triển đông dần thành một làng. Yên Thượng là một làng thuần nông, bao quanh mênh mông đồng lúa nước. Chân núi Nưa nhiều bãi cỏ, mau nước, điều kiện thuận lợi để chăn nuôi trâu, bò, vịt... Cá mau Nưa, khe Nưa cũng là nguồn lợi thiên nhiên dồi dào đáng kể.

Khái niệm vùng đất Cầu Quan rất rộng, một thời gian dài bao trùm đến tận dải đất phía bắc, dọc chân núi đá Hoàng Sơn, gồm các thôn: Thái Bình, Đại Bằng tộc, Thanh Liêm, Hồi Cù, Yên Mỗ, vì tất cả cùng thờ chung vị thần thượng đẳng Tham Xung đại vương, cùng với hai xã Thanh Nê, Tử Nê.

Tham Xung đại vương húy Lê Hữu, con trai út Thái thú quận Cửu Chân Lê Ngọc. Năm cha con Lê Ngọc (ba trai, một gái) nổi binh chống lại quân nhà Đường khi chúng đánh đổ nhà Tùy, tiến sang xâm lược nước ta. Căn cứ địa của Lê Hữu ở vùng Quảng Xương, Nông Cống, Triệu Sơn... Lê Hữu bị tử trận, được nhân dân lập đền thờ tại nhiều nơi. Đền Bến Đá làng Mưng truyền thuyết là đền chính.

Chợ Cầu Quan: Là hình ảnh sinh động của một Cầu Quan hưng vượng. Chợ gần kề nghè Thành Hoàng. Dân gian nhầm lẫn gọi là chúa:

Hết củi đã có núi Nưa

Hết gạo đã có chợ Chùa Cầu Quan

(Ca dao dân gian)

Sách Đại Nam nhất thống chí chép chợ Cầu Quan ở huyện lỵ Nông Cống. Chợ họp ở thôn Thị cùng chung mảnh đất với thôn Sở. Thời trước, chợ huyện là trung tâm kinh tế mua bán hàng hóa, sản vật của cả huyện. So với các chợ trung bình trong huyện: Chợ Sen, chợ Mốc, chợ Diễn Ngoại, chợ Nưa, chợ Chuối... chợ Chùa Cầu Quan lớn nhất. Do yêu cầu phát triển của thị trường bán và mua, chợ Cầu Quan không ngừng mở rộng, nhưng đất đai quá chật hẹp, phải chuyển làng Đông cách đó không xa. Tuy nhiên, chợ Cầu Quan không thành tên chợ Đông lại gọi là chợ Thượng, vì vị trí ở phía trên chợ cũ.

Ngoài nhu yếu phẩm, chợ Thượng nhiều hơn ụt ịt lợn con, nghênh ngang bồ bịch, la liệt thúng mủng, quang giắng, dành rế... Có chợ mới, Cầu Quan không nới chợ cũ. Trên một đoạn đường chừng cây số, đầu chợ này cuối chợ kia. Chợ Thượng họp buổi sáng, chợ Chùa họp phiên chiều. Khách gần, khách xa tấp nập, náo nức. Quảng Xương lên, Tĩnh Gia ra, Đông Sơn vào. Bà con dân tộc Như Xuân cũng vượt núi xuyên rừng với cái bế chất đầy lâm sản, nặng trĩu trên vai lưng, tinh mơ đã về ăn chợ Thượng. Bánh tráng chợ Thượng ngon nổi tiếng. Bánh tày nếp cái hoa vàng “hết chê”. Cá gáy Mau Nưa, cá mè sông Lãng... Mùa nào thức ấy...

Thời kháng chiến chống Pháp, đất Cầu Quan càng đông vui, một thị tứ nông thôn bên dưới có sông đò đưa sóng vỗ, trên bờ có phố xá người khu Ba chung nhà người khu Bốn...

Hoàng Tuấn Phổ

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1