GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Từ góc nhìn địa lý, lịch sử, văn hóa, nhận biết rõ hơn về vai trò, sắc thái của người xứ Thanh

Đăng lúc: 02/06/2018 10:01 (GMT+7)

- Trước hết, phải thấy xứ Thanh là vùng đất đặc biệt, nối liền cả với miền Bắc và miền Trung của đất nước với đầy đủ các vùng miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển và hải đảo. Với địa giới Khe Nước Lạnh ở phía nam, dãy Tam Điệp ở phía bắc, biển cả ở phía đông và vùng núi rừng rộng lớn tiếp giáp với nước bạn Lào và hai tỉnh Hòa Bình, Sơn La ở phía tây, tây bắc, Thanh Hóa như hình ảnh của một nước Việt Nam thu nhỏ, vừa như có sự khép kín trong vành đai của núi, sông và biển cả, nhưng lại vừa có thể mở hướng liên hệ, thông thương dễ dàng với cả 4 phía đông - tây - nam - bắc của đất nước.

Với điều kiện vị trí địa lý tự nhiên như vậy, cho nên, ngay từ thời thuộc Pháp, viên Khâm sứ Trung kỳ Pierre Paspuer khi viết lời tựa giới thiệu cho cuốn sách hướng dẫn du lịch với nhan đề “Thanh Hóa đẹp tươi” của tác giả H. Lebreton (xuất bản năm 1922) đã có một nhận xét khá thú vị về vùng đất Thanh Hóa: “Thanh Hóa không phải chỉ là một đơn vị hành chính (Tỉnh - TG) bình thường, đây là cả một xứ. Cũng muôn hình muôn vẻ như xứ Bắc Kỳ, mà còn như là một hình ảnh của Bắc Kỳ thu nhỏ, nó có châu thổ trù phú và phì nhiêu, có vùng trung du cây cỏ bạt ngàn lượn sóng, vùng cao lầm lỳ mà đại ngàn um tùm bao phủ. Bên trong một duyên hải luôn thay đổi và khó làm ăn...”(1). Với vị trí gạch nối với các vùng miền như vậy, cho nên, điều kiện tự nhiên của xứ Thanh vừa có những nét tương đồng như xứ Bắc Kỳ và những nét tương đồng như Bắc Trung Kỳ cùng tất cả những yếu tố thuận lợi, khó khăn như cả hai miền đều có. Còn ở trong thời kỳ phong kiến, học giả Phan Huy Chú - tác giả của bộ sách nổi tiếng “Lịch triều hiến chương loại chí”, dưới góc nhìn khái quát về địa lý và phong thủy cũng có nhận xét một cách khá sinh động về xứ Thanh như: “Thanh Hóa mạch núi cao vót, sông lớn lượn quanh, biển ở phía đông, Ai Lao sát phía tây, bắc giáp với trấn Sơn Nam, nam giáp đạo Nghệ An. Núi sông rất đẹp, là một chỗ có cảnh đẹp ở nơi xung yếu. Các triều trước vẫn gọi là một trấn rất quan trọng. Đến Lê lại là nơi căn bản. Vẻ non sông tốt tươi chung đúc nên sinh ra nhiều bậc vương tướng, khí tinh hoa tụ họp lại, nảy ra nhiều văn nho. Đến những sản vật quý, cũng khác mọi nơi. Bởi vì đất thiêng thì người giỏi nên nảy ra những bậc phi thường, vượng khí chung đúc nên xứng đáng đứng đầu cả nước”(2). Và trên thực tiễn lịch sử, Thanh Hóa đã trở thành một vùng đất "địa linh nhân kiệt" - nơi gặp gỡ và tụ hội của các luồng dân cư để sinh sống và giao thoa với nhau một cách lâu dài, liên tục để biến nơi đây sớm trở thành một trung tâm cư dân đông đúc nhất trong cả nước.

Một vấn đề nổi bật mà bất kể ai cũng đều dễ nhận biết ở cái "đất lành, chim đậu""địa linh nhân kiệt" này lại là vùng đất của lịch sử có nhiều đóng góp nhất trong quá trình hình thành và phát triển của dân tộc Việt Nam.

Với những gì mà giới khảo cổ học phát hiện được tại núi Đọ, núi Nuông và núi Quan Yên ở xứ Thanh cũng đã đủ bằng chứng để khẳng định vùng đất nơi đây nói riêng và Việt Nam nói chung là một địa bàn nằm trong cái nôi của quê hương loài người. Rồi từ ngọn nguồn đầu tiên của thời đại nguyên thủy, xứ Thanh còn là nơi chứng kiến đầy đủ các bước tiến hóa của con người từ thấp cho đến cao. Sự phát triển của vài chục di tích thời tiền sử (từ Văn hóa Sơn Vi, Hòa Bình ở vùng miền núi phía tây Thanh Hóa đến Văn hóa Đa Bút ở khu vực đồng bằng trước núi và văn hóa Hoa Lộc ở đồng bằng ven biển... đã chứng minh điều đó. Riêng di chỉ hang Con Moong hãy còn lưu giữ các tầng văn hóa chồng gối lên nhau một cách trật tự (từ hậu kỳ đá cũ đến hậu kỳ đá mới) được ví như ngôi nhà cổ của người tiền sử có niên đại cư trú liên tục tới 17 ngàn năm và lâu hơn nữa.

 nu dan quan thanh hoa dep trong khang chien.jpg

Nữ dân quân Thanh Hóa đẹp trong kháng chiến.

Sang thời đại kim khí (mà cụ thể là ở thời kỳ đồng thau và sắt sớm), xứ Thanh lại sớm trở thành một trung tâm cư dân đông đúc của đất nước các vua Hùng và An Dương Vương - đất nước đã làm nên nền Văn hóa Đông Sơn nổi tiếng giàu sức sống đã lan tỏa ảnh hưởng khắp vùng Đông Nam Á mà biểu trưng là hàng loạt trống đồng và hiện vật quý giá khác được phát hiện đầu tiên tại làng Đông Sơn - Hàm Rồng. Từ đó, xứ Thanh liên tục gánh những trọng trách nặng nề để cứu nguy cho Tổ quốc trong suốt quá trình mấy ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Ngay từ thời nước Âu Lạc bị xâm lược, khi mất Cổ Loa, Thục phán An Dương Vương còn chạy về vùng Nam Thanh, Bắc Nghệ để tổ chức chiến đấu trước khi trẫm mình đáy biển. Rồi đến thời Bắc thuộc, vào năm 40, khi Hai Bà Trưng bị Mã Viện đánh bại ở miền Sông Hát (Vĩnh Phúc) thì tại Cửu Chân - xứ Thanh, lão tướng Đô Dương và cừ súy Chu Bá vẫn chiến đấu kháng cự kiên cường, làm Mã Viện cũng phải trả một giá đắt khi xâm lược nước ta. Tiếp đó, vào năm 248, người con gái anh hùng họ Triệu (quê huyện Quân An, nay thuộc địa bàn huyện Yên Định) đã đứng dậy, tập hợp nghĩa quân, xây dựng căn cứ ở Ngàn Nưa chống lại nhà Đông Ngô, làm "Toàn Châu Giáo náo động". 500 năm sau đó, có được nhà nước Vạn Xuân, Nam Đế Lý Bí cũng phải chọn xứ Thanh làm căn cứ chống giặc. Và trong khoảng 50 năm của thế kỷ X, từ Dương Đình Nghệ đến Ngô Quyền, Đinh Bộ Lĩnh và Lê Hoàn cũng đều lấy vùng hạ lưu sông Mã, sông Chu và dãy Tam Điệp làm căn cứ đánh đuổi bọn xâm lược phương Bắc để khôi phục và thống nhất quốc gia Đại Việt, mở ra thời kỳ bản lề và phục hưng văn hóa dân tộc mà trong đó, người xứ Thanh là lực lượng có những đóng góp chủ yếu nhất. Từ đó, suốt ngàn năm tự chủ, vai trò của xứ Thanh lại càng trở nên quan trọng. Lịch sử còn ghi nhận, vào năm 1285, trong giờ phút lâm nguy nhất, khi mà giặc Nguyên Mông chiếm được Thăng Long và hầu hết đất Bắc thì Trần Hưng Đạo đã quyết định thu đại quân và hai vua Trần rút nhanh về vùng hậu cứ xứ Thanh cố thủ để củng cố lại lực lượng, rồi từ đây mở cuộc đại phản công ra Bắc đánh tan quân giặc Thát. Từ hoàn cảnh lịch sử này mà vị vua anh hùng Trần Nhân Tông mới sáng tác ra câu thơ bất hủ: “Cối kê cựu sự quân tu kỵ, Hoan Ái do tồn thập vạn binh”.

Đến thế kỷ XV, vào năm 1418, với mục đích đánh đổ ách thống trị của xâm lược Minh, từ rừng núi Lam Sơn, Bình định vương Lê Lợi đã phất cờ khởi nghĩa, tập hợp hào kiệt và nghĩa sĩ bốn phương, "nằm gai nếm mật", chiến đấu liên tục suốt 10 năm để rồi quét sạch quân Minh ra khỏi cõi bờ để "rửa sạch tanh nhơ", "mở nền thái bình muôn thuở cho dân tộc". Sau một thế kỷ trị vì đến năm 1427, ngai vàng của nhà Lê Sơ đã bị nhà Mạc chiếm cứ. Từ đây, họ Nguyễn (đứng đầu là Nguyễn Kim) và họ Trịnh (bắt đầu là Trịnh Kiểm) người xứ Thanh đã lấy xứ Thanh tập hợp lực lượng để mở cuộc trung hưng lại nhà Lê. Và cục diện Nam - Bắc triều đã diễn ra một cách khốc liệt trong ngót nửa thế kỷ. Và Vạn Lại - Yên Trường của xứ Thanh đã trở thành kinh đô kháng chiến của chính quyền Nam Triều mà thực chất là của nhà Lê - Trịnh. Khi nhà Lê Trịnh đánh dẹp được nhà Mạc lên tận vùng biên giới phía Bắc và đưa giang sơn Đại Việt về một mối thì xứ Thanh vẫn tiếp tục được xem là vùng đất căn bản được triều đình ban phát khá nhiều đặc ân so với các vùng đất khác. Và cũng từ đây, ngoài vua - chúa là người gốc xứ Thanh, quan chức, binh lính xứ Thanh (và cả xứ Nghệ nữa) ở Thăng Long kinh kỳ vẫn chiếm đa số so với người nơi khác. Vì vậy, mà từ đó mới có câu “Thanh cậy thế, Nghệ cậy thần” là thế chăng. Và qua tài liệu điều tra dân tộc học về nguồn gốc dân cư, dòng họ ở Hà Nội thì trong một số bài viết và cuộc nói chuyện, cố Giáo sư Trần Quốc Vượng đã từng có nhận xét thật dí dỏm mà cũng đúng vô cùng rằng “Thăng Long kinh đô xưa thực chất là khu kinh tế mới của người Thanh - Nghệ...”. Cho đến nay, khi xem các bản phả hệ của Hà Nội thu thập, nhiều bản đã nói rõ về tổ họ, tổ nghề ra lập nghiệp ở Thăng Long - Hà Nội đều có nguồn gốc là người Thanh - Nghệ...

Tại Thăng Long kinh kỳ, chính quyền vua Lê - chúa Trịnh vẫn tồn tại dai dẳng suốt từ năm 1593 đến tận năm 1788 - khi nhà Tây Sơn thay thế (nếu tính ra cũng được 195 năm. Trong 195 năm ấy, chính quyền Lê Trịnh dẫu có những hạn chế (như việc để xảy ra cuộc chiến giữa Đàng Trong với Đàng Ngoài khá là thảm khốc), nhưng tựu trung vẫn có công giữ yên bờ cõi và giữ được sự hòa hiếu với các quốc gia láng giềng để đất nước có điều kiện tiếp tục phát triển. Và trong cuộc đối đầu với hơn 20 vạn quân Thanh xâm lược hồi cuối thế kỷ XVIII, vai trò hậu cứ, phên dậu của xứ Thanh lại càng trở nên quan trọng, bởi từ phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn của xứ Thanh, Quang Trung đã dốc lực lượng, mở cuộc đại phản công thần tốc ra Thăng Long đánh tan 20 vạn quân Thanh để bọn xâm lược biết rằng: “Sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ” (nước Nam anh hùng là có chủ - lời tuyên bố của Quang Trung tại vùng đất Thọ Hạc, xứ Thanh trước khi lên đường ra Thăng Long đánh dẹp quân Thanh).

Rồi trong dòng chảy lịch sử của đất nước, của thế kỷ XVIII - XIX, họ Nguyễn gốc xứ Thanh (từng có công trấn giữ và mở rộng đất phương Nam từ gần một thế kỷ trước), từ năm 1802 đã chính thức thay thế nhà Tây Sơn, lập ra vương triều Nguyễn, kéo dài trong 143 năm (từ 1802 - 1945). Và trong quá trình trị vì, nhà Nguyễn gốc xứ Thanh đã có công lao khôi phục thống nhất nước Việt Nam (mà lúc đó gọi là nước Đại Nam) thành một dải từ Mục Nam Quan đến Mũi Cà Mau (như hiện nay vậy). Trong công cuộc mở rộng đất phương Nam và thống nhất quốc gia ở thời kỳ lịch sử này, vai trò đóng góp của người xứ Thanh là rất quan trọng và rất đáng được ghi nhận. Cũng vì thế mà nhà Nguyễn trong 143 năm tồn tại đã dành cho đất và người xứ Thanh (nhất là người Quý hương Gia Miêu, Hà Trung) những đặc ân hơn là nơi khác. Và câu nói: "Thanh cậy thế..." vẫn là một nhận xét phổ biến của người đương thời cho đến mãi về sau.

Đến cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam thì ở xứ Thanh, ngay từ đầu, ngọn cờ Cần Vương chống Pháp đã được phất lên rộng khắp. Các căn cứ Ba Đình, Mã Cao, Hùng Lĩnh, Điền Lư, Trịnh Vạn, v.v... lần lượt ra đời chống xâm lược, làm chấn động cả nước Pháp. Và đến khi thực dân Pháp chiếm cứ được Thanh Hóa và đặt ách cai trị lên cả nước Việt Nam, nhiều học giả người Pháp sau khi nghiên cứu, tìm hiểu về đất nước này đều có chung nhận xét rằng: "Thanh Hóa là sân khấu của những bản anh hùng ca vĩ đại của nước An Nam" (tức Việt Nam). Đây là một nhận xét có tính chất hình ảnh song lại đúng vô cùng. Điều đó còn được chứng minh từ thực tiễn của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ do Đảng ta lãnh đạo mà điển hình là trong cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp (1946 - 1954), xứ Thanh trở thành hậu phương lớn đáng tin cậy của cả nước. Và trong chiến dịch Đông Xuân 1953 - 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử, với việc đóng góp sức người, sức của một cách cao nhất cho tiền tuyến, xứ Thanh đã cùng cả nước làm nên "một Điện Biên chấn động địa cầu" và vì thế mà Bác Hồ mới nói: "Bây giờ tiếng Việt Nam đến đâu, đồng bào Thanh Hóa cũng có một phần vinh dự đến đó".

Tiếp đến là cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, xứ Thanh vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ hậu phương, vừa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến. Trong cuộc chiến với không lực Hoa Kỳ, Hàm Rồng và chiếc cầu sắt bắc qua sông Mã đã trở thành biểu tượng anh hùng, bất khuất của đất nước và con người Việt Nam cùng với những tên tuổi sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng khác như Nam Ngạn, Bến Ghép, Bò Lăn, Đảo Mê, Lạch Trường, Pha Ú Hò, rồi lão quân Hoằng Trường, gái Hoa Lộc... đã làm cho cả xứ Thanh, đất Việt đều phải rất tự hào, hãnh diện.

Và cho đến nay, khi cả nước đang có sự chuyển động, bứt phá mạnh mẽ trong công cuộc hội nhập, phát triển, công nghiệp hóa, hiện đại hóa theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xứ Thanh đã và đang ra sức phấn đấu vươn lên thành một tỉnh giàu mạnh ở khu vực Bắc miền Trung để xứng danh với vùng đất giàu truyền thống lịch sử anh hùng.

(còn nữa)

---------

(1) H.Lebreton, Thanh Hóa đẹp tươi.

(2) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, NXB Giáo dục, 2008, tr.47

Phạm Tấn

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1


Dự báo thời tiết Thanh Hóa