GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Tìm lại con đường thiên đô Thăng Long - Tây Đô

Đăng lúc: 04/12/2017 12:00 (GMT+7)

- Thành Tây Đô được xây dựng trên vùng đất thuộc huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Đã có nhiều công trình nghiên cứu về thành Tây Đô, về vai trò, vị thế của Hồ Quý Ly trong việc xây dựng; về cấu trúc, ý nghĩa quân sự của tòa thành cũng như nguyên nhân dời đô song chưa có một nghiên cứu toàn diện về con đường thiên đô từ Thăng Long - Tây Đô cuối thế kỷ XIV của vương triều Trần. Việc tìm lại con đường thiên đô cuối thời Trần được chúng tôi tiến hành trên cơ sở nguồn tư liệu khảo sát thực địa cùng những chứng tích lịch sử còn lưu lại qua nguồn tư liệu thành văn.

 Cổng Nam thành Tây Đô.JPG

Cổng Nam thành Tây Đô.

Các tuyến giao thông Thăng Long - Tây Đô thời Trần

Lộ tuyến nối Thăng Long với Tây Đô biểu hiện bằng hai hình thức: đường bộ và đường thủy. Về đường bộ, cuối thế kỷ XVII, Ch. Robequain trong cuốn Le Thanh Hóa (tỉnh Thanh Hóa - bản dịch của Nguyễn Xuân Dương, Lâm Phúc Giáp, Nxb Thanh Hóa, 2012) cho biết: “hình như chỉ có hai con đường đi từ Bắc vào Nam Thanh Hóa”. Con đường thứ nhất từ Hà Nội qua Phủ Lý (Hà Nam) đến Nho Quan (Ninh Bình) rồi vòng sang phía Tây, qua Phố Cát (Thạch Thành - Thanh Hóa), qua các huyện Vĩnh Phúc (nay là Vĩnh Lộc), Yên Định, Thủy Nguyên, Lôi Dương (tương ứng với các huyện Thiệu Hóa, Thọ Xuân - Thanh Hóa ngày nay). Con đường thứ hai, theo đoán định của Robequain thì từ Thăng Long đến Tam Điệp thì vòng sang phía Đông đến hợp lưu sông Mã và sông Chu rồi qua các huyện Quảng Xương, Tĩnh Gia.

Còn trước, trong và sau giai đoạn thời Trần, theo các cuốn Địa chí: huyện Bá Thước, huyện Cẩm Thủy, huyện Lang Chánh (tỉnh Thanh Hóa) thì từ kinh kỳ vào vùng đất “phên dậu phía Nam” chỉ có duy nhất con đường Thượng đạo/ đường cái quan. Tuyến giao thông này có nhiều đoạn trùng hợp với con đường thứ nhất theo ghi chép của Robequain. Bởi vậy, nhiều khả năng nó chính là con đường tuần du, đánh dẹp của các Hoàng đế Đại Việt về phía Nam đồng thời là tuyến giao thông nối Thanh Hóa nội trấn với Thanh Hóa ngoại trấn thời Hậu Lê.

Dấu tích thủy lộ nối châu thổ sông Mã với châu thổ sông Hồng còn lại khá rõ nét. Theo Địa chí Thanh Hóa, sông Mã chảy dọc tỉnh Thanh Hóa đến Ngã ba Bông (địa phận xã Vĩnh An, huyện Vĩnh Lộc và xã Hà Sơn, huyện Hà Trung) thì chia dòng, một dòng đổ ra biển chính là con sông Lèn. Sông Báo Văn (đoạn gần cửa sông Tống) nối sông Lèn với sông Hoạt và đổ ra biển qua cửa Lạch Câu.

Sông Hoạt bắt nguồn từ vùng Thạch Thành, Hà Trung, chảy qua huyện Hà Trung rồi qua huyện Nga Sơn. Tại Nga Vịnh (Nga Sơn), sông Hoạt đón dòng chảy từ sông Tống (Tống giang). Từ cửa sông Tống đến biển được đặt tên là sông Càn. Con sông Càn chảy qua một số xã phía Bắc huyện Nga Sơn, qua cửa Thần Phù ra biển (ngày nay đã bị phù sa bồi đắp và trở thành vùng đất nằm cách bờ biển hơn 10 km). Tuyến đường thủy từ cửa Thần Phù ra Bắc chính là dòng chảy của các con sông: Vân Sàng (sông Vân - Ninh Bình), sông Đáy (con sông chính của lưu vực sông Nhuệ - Đáy ở phía tây nam vùng châu thổ sông Hồng) hiện nay.

Dòng chảy của sông Hoạt không dài, lòng sông hẹp nhưng không sâu, nước chảy chậm, không có thác ghềnh nên sớm trở thành con đường thủy xuyên dãy Tam Điệp nối xứ Thanh với Thăng Long. Trước khi có đường bộ vượt đèo Ba Dội (Tam Điệp) và tàu hỏa sông Mã thì hệ thống sông Hoạt cùng với sông Lèn, sông Mã (đoạn từ Ngã ba Bông đến phường Hàm Rồng, TP Thanh Hóa) là tuyến giao thông quan trọng nhất, nối liền Thanh Hóa với các tỉnh Ninh Bình, Nam Định. Từ đó mà người dân nơi đây có khái niệm “đò dọc tam tỉnh”.

Nghiên cứu về tuyến giao thông đường thủy này, các nhà nghiên cứu cho biết thông tin: đường thủy từ Thanh Hóa đến Thăng Long dài 416 dặm, quãng đường di chuyển của thuyền trung bình 70 dặm/ngày. Như vậy từ Thăng Long vào xứ Thanh mất thời gian khoảng 6 ngày.

Nhận thức được vai trò của tuyến giao thông thủy này nên các triều đại quân chủ nước ta, từ Tiền Lê đến Lý - Trần và Hậu Lê đã có nhiều biện pháp can thiệp để thuận lợi hơn cho vị di chuyển như đào kênh, nạo vét lòng sông, nắn dòng chảy… Không chỉ tuyến giao thông trên sông Hoạt mà đoạn từ sông Vân Sàng đến cửa biển Thần Phù cũng được cải tạo mà điển hình là sự kiện nhà Lý chỉ đạo đào kênh Lẫm (Ninh Bình) năm 1051.

Tuyến nội thủy này đã để lại dấu ấn trong thơ ca của các tao nhân mặc khách cũng như các bậc vua chúa. Cửa Thần Phù đã được đề cập trong thơ Nguyễn Trãi sau bận “Quá Thần Phù hải khẩu”. Núi Vân Hoàn, núi Chiếu Bạch bên bờ sông Lèn cũng trở thành đề tài ngâm vịnh của Phạm Sư Mạnh, Lê Thánh Tông, chúa Trịnh trong những chuyến tuần du phương Nam hoặc “hạ quy Lam Kinh bái yết sơn lăng”.

Con đường thiên đô Thăng Long - Tây Đô

Trong tương quan hai tuyến giao thông thủy - bộ, không khó để nhận thấy con đường Thượng đạo rất hiểm trở, không thuận tiện cho vận tải do bị chia cắt bởi hệ thống núi đá vôi Tam Điệp. Hồ Quý Ly nhận thức rất rõ điều này nên ông đã sớm sử dụng con đường thủy để vận chuyển nguyên vật liệu xây dựng Tây Đô.

Sách Đại Việt sử ký toàn thư cho biết: do nhu cầu xây dựng gấp gáp nên họ Hồ cho “dỡ gạch ngói, gỗ lim ở các cung điện Thụy Cương, Đại An, giao hết cho các châu Từ Liêm và Nam Sách chở đến kinh đô mới, gặp bão chìm đắm quá nửa”. Nguồn tư liệu dân gian vùng Hà Trung (nơi Hồ Quý Ly dựng hành cung Bảo Thanh, tức Ly cung xưa) cho biết: trong số thuyền chở gỗ lim qua Ly cung, có chiếc đã bị đắm trên sông Lèn.

Sự kiện Hồ Quý Ly vận chuyển nguyên vật liệu bằng đường thủy cũng được Hoàng đế Lê Thánh Tông xác nhận trong bài thơ Thần Phù hải môn lữ thứ:

Phiên âm: Xuyên vân nhiếp kính nhất điều hu, /Trùng giá chinh diêu tác viễn du./ Địa tuấn giang đà thông thượng quốc,/ Thiên tương chỉ trụ chướng hoành lưu./ Hồ Vương uổng tái điền hà thạch,/ La Viện khinh thừa áp lãng chu./ Thử khứ hải môn tam thập cửu,/ Kế trình hà nhật đáo Ô Châu? (Tổng tập thơ chữ Hán Lê Thánh Tông, NXB Văn học, 2003).

Dịch thơ: Xuyên mây đường núi lượn quanh co/ Xe ngọc phương trời lại viễn du/ Đất hiểm sông luồn thông mạn ngược/ Trời xây cột chắn giữa dòng sâu/ Chương Hoàng đá tảng sông đầy chất/ La Viện thuyền con sóng nhẹ ru/ Vượt biển chuyến này ba chín cửa/ Đường dài bao nhỉ đến Ô Châu? (Bản dịch của Ngô Linh Ngọc).

Tóm lại, căn cứ vào tuyến giao thông thủy hiện tại cùng sự kiện “Quý Ly bức vua dời đến kinh đô mới ở phủ Thanh Hóa. Vua đi Yên Sinh bái yết sơn lăng trước rồi tới hành tại gọi là cung Bảo Thanh” (Đại Việt sử ký toàn thư) có thể phác dựng lại con đường thiên đô Thăng Long - Tây Đô như sau: Từ Thăng Long theo sông Đáy, đến Ninh Bình rồi theo sông Vân Sàng qua cửa Thần Phù, theo sông Hoạt vào sông Báo Văn đến sông Lèn, dừng nghỉ tại hành cung Bảo Thanh rồi từ sông Lèn qua Ngã ba Bông để ngược sông Mã đến kinh đô mới. Bến Giáng thuộc xã Vĩnh Thành cách cửa Tây kinh thành khoảng 1km là điểm cuối của hành trình này.

Lộ trình này hoàn toàn phù hợp với hệ thống sông ngòi phía Bắc Thanh Hóa và khu vực phía Nam châu thổ sông Hồng đồng thời có nhiều điểm trùng khớp với một số sự kiện lịch sử cũng như dấu ấn văn hóa còn lưu lại trên hành trình.

(Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả)

Phạm Hoàng Mạnh Hà

1 Bình luận
  • Thế Anh - 04/12/2017 14:07 (GM+7)
    Bài viết rất hay, luận giải hợp lý, mong có thêm nhiều bài khác của tác giả!
Ý kiến bạn đọc
3


Dự báo thời tiết Thanh Hóa