GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Tên gọi Hà Trung, Đò Lèn, Yến Sơn

Đăng lúc: 24/09/2019 14:00 (GMT+7)

- Sau kỷ niệm 990 năm Thanh Hóa, chúng tôi thiết nghĩ sẽ là hệ thống, đồng bộ và đầy đủ nếu các huyện và thành phố trong tỉnh cũng xác định được nguồn gốc, thời gian tên gọi, đặc trưng văn hóa... Với động lực ấy, chúng tôi đã tìm hiểu trong sử sách, trên thực tế về vùng đất Hà Trung mà trong các tài liệu, do phạm vi hạn chế còn có những vấn đề chưa đi sâu. Hà Trung là vùng đất nguồn cội lịch sử, văn hóa, cách mạng... tìm hiểu tên gọi là điều cần thiết, thú vị và hạnh phúc.

 khúc sông Lèn.jpg

Khúc sông Lèn.

- Tên gọi Hà Trung có từ khi nào?

Trong “Địa chí Thanh Hóa” viết:

“Năm Quang Thái thứ 10 (Trần Thuận Tông - 1397) đổi làm trấn Thanh Đô. Trấn Thanh Đô lúc này gồm 7 huyện và 3 châu (mỗi châu có 4 huyện)...”[1]

... “B. CHÂU ÁI:

1. Huyện Hà Trung: là huyện Hà Trung (phần lớn) và Bỉm Sơn (phía tây) ngày nay...”[2]

Cũng trong “Địa chí Thanh Hóa” viết tiếp:

“... Hồng Đức 21 (1490), đổi làm Thanh Hoa xứ. Thanh Hoa Thừa tuyên (cũng là Thanh Hoa xứ), theo (Thiên Nam dư hạ tập) lãnh 4 phủ, 16 huyện và 4 châu...

2. Phủ Hà Trung gồm 4 huyện là Tống Giang, Hoằng Hóa, Thuần Hựu, Nga Giang”[3]

Trong bản Thần phả tại đền thờ Tô Hiến Thành ở làng Cẩm Đới, xã Hà Giang, Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn 1572 viết: “Thời kỳ nhà Hậu Lý từ Thái tổ, Thái tông, Thánh tông cho đến thời kỳ Thần tông ở phường Thái Hòa, thành Thăng Long có ông Tô Hiến Tín thi đỗ khoa Hiền Lương, được bổ nhiệm làm quan ở huyện Tống Sơn, phủ Hà Trung, Ái Châu... (tức là Thanh Hóa ngày nay...) ”[4]. [Bản gốc Thần phả này hiện đang lưu trữ tại Viện Hán Nôm. Bản dịch của xã Hà Giang cung cấp. (Tô Hiến Tín thân sinh Tô Hiến Thành)].

- Từ cứ liệu trên, đủ cơ sở để xác định tên gọi Hà Trung xuất hiện vào năm Quang Thái thứ 10 (Trần Thuận Tông - 1397).

- Nếu Đông các Đại học sỹ Nguyễn Bính soạn “Thần phả” năm 1572 là chuẩn xác, người dịch Thần phả đúng thì tên gọi Hà Trung có từ thời hậu Lý, giai đoạn Vua Lý Thần tông trị vì (từ năm 1128 đến 1138) và có thể trước đó.

- Tại sao gọi là Hà Trung?

Tên gọi bao giờ cũng gắn liền với nguồn gốc, đặc điểm địa lý của vùng đất, lịch sử văn hóa, giai thoại, huyền thoại, khát vọng của con người ở vùng đất ấy... Căn cứ vào nội hàm của chữ nghĩa mà xét thì Hà Trung:

Hà là sông nước. Một vùng bắc Thanh Hóa không rộng lắm nhưng có hàng chục con sông lớn nhỏ cắt chéo nhau. Trong sách“Lịch triều hiến chương loại chí” khi nói về địa chí Thanh Hóa, Phan Huy Chú đã viết: “Kể về núi sông sầm uất, chỉ có huyện Tống Sơn là có nhiều hơn...”[5] Đặc điểm sông ngòi ở vùng này là các sông chính chảy theo hướng từ Tây Bắc sang Đông Nam, các sông phụ là các nhánh nối liền các sông chính theo hướng chủ yếu từ Đông Bắc xuống Tây Nam. Những con sông này tạo thế bàn cờ chảy qua các vùng đất trũng lầy, các cánh đồng quanh năm ngập nước...

Chữ trung đứng sau chữ có hàm ý nguồn cội, tiềm tàng, sâu sắc và sinh động hơn rất nhiều so với nghĩa là trung tâm, trung điểm. Trung ở đây là: Vùng đất có ở trong lòng nó, ôm ấp trong lòng nó những con sông... Người xưa thông tuệ, sâu xa vậy để nhắc nhớ rằng từ quan đến dân có định hướng, có tầm nhìn có cách sống cho một vùng đất trong hành trình chinh phục tự nhiên, mang lại cơm no áo ấm cho bách tính, bình yên cho sơn hà xã tắc.

- Đò Lèn

Sẽ là chưa đầy đủ nếu nói đến Hà Trung, mà không nói tới Đò Lèn. Một trong những đoạn đường thủy của các Vua Lê đi từ Lam Kinh về thăm Gia Miêu ngoại trang (xã Hà Long, huyện Hà Trung hiện nay - Quê hương của Trường Lạc Thánh Từ Hoàng Thái hậu Nguyễn Thị Hằng - Chánh thất của Vua Lê Thánh Tông) là đoạn sông Lèn từ Ngã Ba Bông đến vụng Chiếu Bạch (xã Hà Lâm) để vào sông Chiếu Bạch. “Theo sách Đại Nam Nhất thống chí (thời Nguyễn) thì sông này chính là sông Nga Giang, ngoài ra những tên sông Đại Lại, sông Cụ, sông Chế đều là tên riêng của sông này...”[6] , “... Qua tìm hiểu, chúng tôi được biết là ở khu vực sông này xưa kia có một bến đò, ở phía dưới có một lèn đá ngầm, cho nên dân gian xung quanh vùng này vẫn thường quen gọi là bến Đò Lèn”[7] . Đó là một cách lý giải? Sách “Đại Nam nhất thống chí” chép: “Hai bờ sông đều là núi, qua bến Đại Lý thì có vũng Chiếu Bạch chảy vào”[8]. Theo quan sát và tìm hiểu của chúng tôi, ở đầu nguồn sông, dòng chảy qua lèn đá núi, lèn đá có phần vách núi cao bên bờ sông nên có thể dân gian lấy nơi bắt đầu nguồn sông mà gọi tên sông là sông Lèn?

- Theo sách Đại Nam nhất thống chí - Quốc sử quán triều Nguyễn (viết trước năm 1875) Lỵ sở của huyện lỵ Hà Trung năm Minh Mệnh thứ 19 ở xã Bình Lâm (nay là làng Bình Lâm xã Hà Lâm). Hiện nay cụm di tích thắng cảnh Bình Lâm gồm: “Đình Phúc, đền Lê Phụng Hiểu, bia đề thơ của các Vua Lê, núi Chiếu Bạch - Núi Yến, Hinh Sơn và động Bà Chúa” ở Bình Lâm đã được xếp hạng di tích cấp tỉnh, thành phố.

- Yến Sơn (núi Chiếu Bạch, núi Yến) là một ngọn núi thấp nhưng rất nhiều vách đá và có cả hang động nhỏ. Núi nằm choãi ra vụng Chiếu Bạch mà hiện nay vẫn còn dấu tích rất rõ. Bên tả núi là một vùng nước rộng có rất nhiều cây sen. Bên hữu núi cũng là vùng đất trũng. Trong “Địa chí huyện Hà Trung” viết: “Thực chất núi Chiếu Bạch là ngọn núi sót mọc lên bên sông Lèn, trông xa giống hình chim yến nên còn có tên là núi Yến” tức (Yến Sơn)”[9]? Thực tế trên đất nước ta có những ngọn núi được gọi tên theo hình dạng. Đó là cách gọi tên núi hay gặp trong dân gian. Trong bài thơ “Ngự chế đề Chiếu Bạch sơn” viết ngày 3 tháng 3 năm Tân Dậu (1501) của Vua Lê Hiến Tông khắc trên bia đá tại núi Yến có câu: “Triều bình thiên khoát yến giao phi”[10]... Không phải ngẫu nhiên mà chim yến có ở trong câu thơ. Có thể đây là ngọn núi đá do có không khí mát mẻ, trong lành lại nhiều vách đá, khe đá che nắng, che mưa, yên tĩnh nên đã từng là nơi trú ngụ, sinh sôi của chim yến hàng bao thế kỷ nên có tên gọi là Yến Sơn? Vào năm 1941 đỉnh Yến Sơn là nơi cắm lá cờ đỏ búa liềm đầu tiên của Đội tự vệ Cứu quốc trong vùng, vì vậy Yến Sơn không chỉ là môt thắng tích mà còn là một di tích lịch sử cách mạng.

Hà Trung, một cái tên ra đời và gắn liền với lịch sử dân tộc từ rất sớm, một cái tên hay ở bên trong, đẹp ở bên ngoài, rất đúng với đặc điểm về tự nhiên, về lịch sử, cách mạng, văn hóa, xã hội đã có trong lòng nó. Một vùng đất từng là phên dậu của đất nước. Với vài điều tìm hiểu, suy ngẫm như trên chúng tôi mong rằng tên gọi Hà Trung và theo nó là Đò Lèn, Yến Sơn...  sẽ còn lưu giữ mãi trong lòng con dân đất Việt.

--------------

[1] Địa chí Thanh Hóa tập 1, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội, 2000, tr 267.

[2] Địa chí Thanh Hóa, Sđd, tr 268.

[3] Địa chí Thanh Hóa, Sđd, tr 269.

[4] Địa chí Hà Trung, Nxb KHXH, Hà Nội, 2005, tr 866.

[5] Lịch triều hiến chương loại chí, tập1 Nxb Sử học, Hà Nội 1960, tr 44.

[6] Địa chí Hà Trung, Sđd, tr35.

[7] Địa chí Hà Trung, Sđd, tr34.

[8] Đại Nam nhất thống chí. Nxb KHXH, Hà Nội 1970, tr 237

[9] Địa chí Hà Trung, Sđd, tr50.

[10] Văn nghệ Xứ Đoài 2/11/2013.

Vũ Quang Trạch

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1