GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Phục dựng hát chèo thờ trong Lễ hội đền Mưng

Đăng lúc: 23/03/2019 10:00 (GMT+7)

- Lễ hội đền Mưng có lịch sử tồn tại đã gần 1.400 năm. Đây không chỉ là một lễ hội lớn, đặc sắc của người dân ở xã Trung Thành (Nông Cống) mà còn mang đậm sắc thái văn hóa qua việc kết hợp giữa các hoạt động văn hóa thể thao truyền thống như: đua thuyền, hát chèo thờ trên sông Lãng, thi chọi gà, bắt vịt trên sông, với các môn thi đấu thể thao hiện đại như: bóng chuyền, bóng bàn...

Câu chuyện ở đền Mưng

Theo sử sách ghi lại thì đền Mưng, xã Trung Thành, (Nông Cống, Thanh Hóa) là nơi thờ tự Đức thánh lưỡng tam xung tá quốc, húy danh là Lê Hữu, nhân dân ta thường gọi là chàng Út lãng đại vương. Theo đó, khi nhà Đường đem quân xâm lược nước ta, không khuất phục dưới ách đô hộ, Lê Hữu đã cùng cha và các anh đứng lên tụ binh khởi nghĩa, đánh đuổi quân xâm lược nhà Đường thế kỷ thứ VII năm 616 - 618. Trong một trận giao tranh sinh tử ông đã bị thương và hiển thánh bên bờ sông Lãng Giang vào ngày 5/3 (âm lịch), năm 618. Cha và các anh của ông cũng hy sinh khi chống giặc. Để ghi nhớ công ơn, sự hy sinh cao cả của cha con ông, nhân dân trong vùng đã lập bàn thờ để hương khói. Đến đời Hậu Lê khu thờ phụng được xây dựng thành đền thờ gọi là đền Mưng.

Khi thực dân Pháp đô hộ, đền Mưng đã phải di dời, và bị phá hủy hoàn toàn trong cuộc chiến tranh chống Mỹ cứu nước. Đất nước đổi mới khu di tích đền Mưng được trùng tu và năm 1994 được công nhận là di tích cấp tỉnh.

Từ đó đến nay, hàng năm cứ đến ngày mùng 5 tháng 3 âm lịch, cán bộ và nhân dân trong làng lại tưng bừng tổ chức lễ hội, nhằm tưởng nhớ công lao to lớn của Tham xung tá quốc Lê Hữu, tục gọi là chàng Út Lãng Đại Vương.

Ông Lê Danh Diễn - Chủ tịch UBND xã Trung Thành (Nông Cống), cho biết: Hiện nay, đền Mưng không chỉ là nơi để bà con dân làng đến dâng hương tế lễ mà còn thu hút được đông đảo du khách trong và ngoài tỉnh đến tham quan, vãn cảnh. Nhận thức rõ điều đó, những năm qua, địa phương đã đẩy mạnh công tác xã hội hóa trong việc trùng tu, tôn tạo, xây dựng cơ sở vật chất. Bên cạnh đó việc tổ chức các hoạt động văn hóa nghệ thuật của di tích cũng là một nội dung được xã đặc biệt quan tâm, bởi lẽ đền Mưng là lễ hội vùng dân cư trồng lúa nước lớn nhất và tồn tại lâu đời nhất trong nhân dân khu vực Cầu Quan.

Điểm nhấn của Lễ hội đền Mưng

Ông Trần Văn Phượng, Phó phòng VHTT huyện Nông Cống, cho biết: Điểm nhấn đặc sắc của đền Mưng chính là gắn với Lễ hội đền Mưng. Đặc biệt, hát chèo thờ đền Mưng là nét đẹp văn hóa đặc trưng của lễ hội này, đang được các nhà nghiên cứu văn hóa, cơ quan chuyên môn đề nghị được công nhận giá trị văn hóa phi vật thể quốc gia.

 chèo thờ lễ hội đền Mưng.jpg

Phần hát chèo khi chèo thuyền trên sông Lãng Giang được xem là điểm nhấn của lễ hội đền Mưng.

Qua một số nghệ nhân còn am hiểu về lễ hội này, được biết: Chèo thờ làng Mưng bắt nguồn từ một câu chuyện cảm động. Làng vốn nằm ở hữu ngạn sông Lãng Giang (xã Trung Thành, Nông Cống). Đền Mưng thờ Thánh Lưỡng. Theo truyền thuyết, Thánh Lưỡng là em của Tam Giang thần nữ tức Vua Bà. Thánh Lưỡng hy sinh anh dũng trong chiến trận. Bà chị thương em nhảy xuống sông Lãng tự vẫn, thi thể trôi đến ngã ba nơi hợp lưu giữa sông Lãng, sông Hoàng và sông Yên thì được dân làng đưa lên an táng, lập đền thờ Vua Bà (hiện thuộc xã Tế Tân), cúng bái từ mùng 5 - 8 tháng 3 (âm lịch). Ngày mùng 8 có lệ “em đến thăm chị”: Thánh Lưỡng được rước xuống đền Vua Bà. Lệ rước bằng thuyền, dọc dòng Lãng Giang dài khoảng 10 km, vì vậy mà có hội chèo thờ tháng Ba (hay còn gọi là trò hát thờ).

Thông lệ hàng năm, để chuẩn bị cho hội chèo thờ, 8 làng của hai xã Trung Thành và Trung Chính, sống quanh sông Lãng (thực địa sẽ diễn ra “chèo nước” - tức hát chèo dưới nước) đã có một “cuộc họp nội bộ”, thống nhất không đánh cá giống gồm cá trôi, trắm, gáy, mè từ đầu tháng Giêng. Theo quyết định cuộc họp các làng sống xung quanh đưa ra thì nếu ai phạm luật bắt cá giống trên sông Lãng Giang sẽ bị làng phạt vạ hoặc bằng tiền hoặc phải quỳ ba ngày ba đêm sám hối trước Đức Thánh Lưỡng ngũ vị thờ tại đền Mưng.

Năm nào cũng vậy, cứ đến dịp lễ hội người dân trong vùng lại tạm gác lại mọi công việc để kéo nhau đến tham dự. Khi các thuyền chuẩn bị xuất phát cũng là lúc người dân hai bên bờ hò dô, cổ vũ. Sau mõ lệnh, các thuyền xuất phát, đi cách nhau đúng 100m (đo bằng dây thừng). Đi trước là hai thuyền phát đường, kế đến là thuyền hương án, tiếp theo là thuyền chính ngự và cuối cùng là thuyền phù giá. Đội thuyền dời bến Đá (sau đền Mưng) đến đâu thì trên bờ, voi nan, ngựa giấy, người đeo mặt nạ, lính cầm bát bửu theo hầu trò đến đấy. Đoàn thuyền theo dòng Lãng Giang uốn lượn xuôi xuống đền vua bà (cách đền Mưng 10km), đến mỗi làng trên khúc sông thuyền xuôi qua, theo thói quen các nữ chèo lại cất lên những câu hát quen thuộc trong 28 làn điệu chèo cổ làng Mưng.

Khi thuyền đến làng Vặng, các nữ chèo hát: “Thuyền rồng đã đến Vực Si/ Con gái làng Vặng làm chi ở nhà?”. Các nữ chèo vừa đi vừa hát, đến trước cửa Tam Giang (đền thờ thánh nữ Tam Giang) thì thuyền đậu lại. Lúc này, người trên bờ đông nghịt lại cất tiếng hò: “Lạy trời lạy Phật lạy vua/ Năm nay được mùa, làng họ ăn tham”.

Làm lễ xong, ông từ cùng các bô lão phải vào xin rước thánh về. Trong lúc chờ đợi, làng sở tại lại hát tiếp cho đến khi nào các cụ xin âm dương cho “chị em” chia tay nhau mới thôi.

Lễ hội kết thúc trong niềm vui khoan thai của các đội chèo, cũng như dân làng địa phương và du khách tham dự.

Ông Trần Văn Phượng - Phó trưởng phòng VHTT huyện Nông Cống, cho biết: Lễ hội thường diễn ra và kết thúc trong vòng một ngày. Mặc dù, lễ hội được tổ chức hàng năm trong niềm vui của bà con dân làng, nhưng một điều chúng tôi luôn trăn trở đó là lớp nghệ nhân ở địa phương am hiểu về hát chèo thờ còn lại rất ít, trong khi lớp trẻ lại không ai biết hát. Hơn nữa, hát chèo thờ hầu hết được nhân dân địa phương tổ chức một cách tự phát, chứ chưa có bài bản, quy mô. Thời gian tới, tỉnh đang có đề án phục dựng lại điệu hát chèo, hy vọng rằng hát chèo trong Lễ hội đền Mưng sẽ được bảo tồn và phát huy hơn nữa.

Nguyễn Đạt

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1