GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Lê Minh Dung trong phong trào Cần Vương chống Pháp ở Thanh Hóa

Đăng lúc: 12/03/2019 08:00 (GMT+7)

- Dòng họ Lê Minh ở làng Đại Bái, xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa là một dòng họ “trung hiếu, truyền gia”, trải qua bao thế hệ đã hun đúc nên những người con ưu tú, có nhiều đóng góp trong các cuộc đấu tranh chống ngoại xâm giành độc lập dân tộc ở nửa cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX.

Lê Minh Dung tự là Minh Châu, thụy là Văn Đạt, sinh năm Ất Mùi (1835) dưới triều Minh Mệnh. Ông quê ở xã Đại Bối, huyện Đông Sơn, phủ Thiệu Hóa, (nay là làng Đại Bái, xã Thiệu Giao, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Cha là Lê Minh Yến, tự là Phổ Hiền phủ quân “người thuần phác cẩn trọng học hành, thi đỗ nhị trường, làm lý trưởng hơn 10 năm, không hề có tội lỗi, lại làm nghề y cứu sống được nhiều người”, mẹ là người họ Tống, xã Vĩnh Gia, huyện Mỹ Hóa (nay thuộc xã Hoằng Phượng, huyện Hoằng Hóa, tỉnh Thanh Hóa).

 Từ đường dòng họ Lê Minh ở Thanh Hóa.jpg

Từ đường họ Lê Minh đã được công nhận di tích lịch sử cấp tỉnh.

Theo gia phả dòng họ Lê Minh, từ nhỏ ông được cha mẹ cho ăn học đến nơi đến chốn, thông minh, tính tình thẳng thắn. Đến tuổi trưởng thành cũng là lúc thực dân Pháp xâm lược nước ta, chứng kiến những tội ác mà thực dân Pháp gây ra cho nhân dân. Với lòng yêu nước nồng nàn và lòng căm thù giặc sâu sắc, Lê Minh Dung đã bỏ tiền ra chiêu mộ trai tráng trong vùng và đi theo Tổng đốc Quân vụ Đại thần Nguyễn Tri Phương đến vùng Tam Tuyên (Sơn Tuyên, Hưng Hóa, Tuyên Quang) đánh tiểu phỉ ở phương Bắc tràn sang cướp phá giết hại dân làng. Sau này ông làm Thư lại Niết ty tỉnh Thanh Hóa và được thăng Lại mục huyện Nông Cống Biện tấn thừa tá.

Năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, Tôn Thất Thuyết đưa vua Hàm Nghi lên chiến khu Tân Sở (Quảng trị) ra chiếu Cần Vương kêu gọi văn thân, sĩ phu và nhân dân cả nước đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Hưởng ứng chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi (13/7/1885), dưới sự chỉ đạo của các sĩ phu văn, thân yêu nước, phong trào của nhân dân Thanh Hóa diễn ra trên cả ba vùng chiến lược: đồng bằng, miền biển và miền núi ngày càng phát triển và hình thành nên những trung tâm kháng chiến lớn.

Theo tiếng gọi cứu nước của vua Hàm Nghi, Lê Minh Dung đã gia nhập đội quân của Lê Khắc Tháo ngay tại quê nhà. Lúc này Lê Khắc Tháo được cử làm Tán tương quân vụ huyện Đông Sơn, đang gia sức tập hợp lực lượng, rèn sắm vũ khí. Lê Minh Dung đã cùng với nghĩa quân đã làm lễ tế cờ tại Mã Dưa nguyện một lòng đánh giặc. Tháng 3 năm 1886, ông cùng nghĩa quân Lê Khắc Tháo tham gia tập kích thành Thanh Hóa. Việc đánh thành Thanh Hóa do Phạm Bành chỉ huy điều động nghĩa quân các huyện Quảng Xương, Nông Cống, Đông Sơn, Hoằng Hóa... cùng phối hợp tiến đánh.

Đêm 11 rạng ngày 12 tháng 3 năm 1886, nghĩa quân các huyện đã cải trang làm người đi chợ, giấu vũ khí vào các đòn thúng gánh rỗng, nghĩa quân tấn công vào cửa Tiền, cửa Tả đánh giết lính gác rồi tấn công vào trong thành, đánh chiếm các công sở của người Pháp và tiêu diệt được một số tên địch, trước sự tấn công quyết liệt của nghĩa quân, quân địch hoảng loạn, một số bỏ trốn, còn lại rút vào đồn cố thủ. Do quân Pháp có ưu thế về vũ khí nên sau vài phút bối rối đã tổ chức phản công lại. Nghĩa quân không chiếm được thành nhưng cũng đã giáng một đòn mạnh mẽ vào quân xâm lược.

Sau khi tham gia tập kích thành Thanh Hóa, Lê Minh Dung đã cùng với nghĩa quân Lê Khắc Tháo tham gia xây dựng căn cứ Ba Đình. Căn cứ được xây dựng vào giữa năm 1886, do Đinh Công Tráng, Phạm Bành, Hoàng Bật Đạt cùng một số tướng lĩnh khác chỉ huy để bảo vệ cửa ngõ yết hầu của miền Trung, từ đó làm bàn đạp tấn công thực dân Pháp ở đồng bằng.

Tại đây, Lê Minh Dung chỉ huy nghĩa quân đào hào, xây dựng chiến lũy và chiến đấu anh dũng, chống lại quân Pháp. Trong trận chiến, mặc dù nghĩa quân mưu trí dũng cảm nhưng do quân địch hỏa lực mạnh nên đã bị thương vong nhiều. Để bảo toàn lực lượng, nghĩa quân đã thực hiện kế hoạch rút khỏi Ba Đình. Đêm ngày 20 tháng 1 năm 1887 (tức đêm 27 tháng Chạp năm Bính Tuất), lợi dụng lúc trời tốt và mưa, dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng, ông đã cùng nghĩa quân mở đường máu vượt qua vòng vây quân Pháp trở về căn cứ Mã Cao để tiếp tục chiến đấu.

Căn cứ Mã Cao nằm trong hệ thống căn cứ kháng chiến, được xây dựng vào giữa năm 1886 do Trần Xuân Soạn và Hà Văn Mao phụ trách, là căn cứ quan trọng thứ hai sau căn cứ Ba Đình. Tại đây, Hà Văn Mao đã cho xây dựng 7 đồn, gồm: Mã Cao, Đồng Tâm, Hồ Sen, Bù Quả, Bù Hàng, Thung Voi, Thung Khoai.

Quân Pháp sau khi chiếm được Ba Đình chúng tiếp tục cho quân truy kích nghĩa quân ở Mã Cao. Dưới sự chỉ huy của Đinh Công Tráng và Hà Văn Mao, Lê Minh Dung đã cùng nghĩa quân chiến đấu rất anh dũng trước sự hung hãn của quân địch. Trong một trận quyết chiến, ông đã hy sinh anh dũng, khi ở tuổi 53.

Về gia đình: Lê Minh Dung có vợ là Lê Thị Chính sinh được hai người con trai là Lê Văn Tuyển và Lê Văn Tuyến.

Cuộc đời và sự hy sinh cao cả của ông mãi là tấm gương sáng để con cháu noi theo. Để tri ân những công lao đóng góp của dòng họ Lê Minh nói chung và cụ Lê Minh Dung nói riêng, con cháu trong dòng tộc đã xây dựng từ đường. Đến năm 2011, nhà thờ Lê Minh đã được dựng lại trên nền móng cũ với quy mô cấu trúc gồm: Cổng, sân, nhà bái đường, nhà dải vũ. Gian giữa thờ Lê Minh Dung và con trai là Lê Văn Tiến. Hiện nay trong nhà thờ còn treo đôi câu đối:

“Mã Cao khói bốc mịt mù, ngày khởi nghĩa Văn Thân định kinh hoàng chống đỡ,

Hàm dương khí thiêng vang dội, buổi thiêu tan hồn Pháp ông anh dũng hy sinh”

Với những đóng góp của dòng họ Lê Minh, ngày 14/9/2012, UBND tỉnh Thanh Hóa đã cấp Bằng xếp hạng công nhận từ đường Lê Minh là Di tích lịch sử cấp tỉnh.

Lê Thị Thúy Huệ

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1