GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Kỳ bí hang Phi

Đăng lúc: 11/04/2018 08:00 (GMT+7)

- Huyện Quan Hóa không chỉ nổi tiếng với bề dày truyền thống lịch sử, văn hóa, gắn liền với nhiều lễ hội, danh lam thắng cảnh, luật tục độc đáo của đồng bào các dân tộc thiểu số, mà còn có hang Phi (hang Ma), từ lâu gắn liền với nhiều câu chuyện ly kỳ, bí ẩn.

Vẻ đẹp hang Phi

Nằm ven đường Hồi Xuân - Mường Lát, cách thị trấn Quan Hóa gần 3km, quần thể di tích, thắng cảnh hang Phi hiện lên như một bức tranh thủy mặc, mang vẻ đẹp huyền bí, kì ảo, có sông Luồng uốn lượn chảy qua. Do độ chảy của dòng sông Luồng có độ chênh lớn, nên trải qua hàng triệu năm, nước đã bào mòn hai vách đá ở bờ sông tạo thành hai vòm hang lớn (hang Phi nhỏ và hang Phi lớn).

Bao quanh hang Phi là những vách đá dựng đứng, dưới hang có bãi cát vàng rộng hơn 5.000m2, có thể chứa hàng nghìn người vui chơi, ngắm cảnh. Cạnh bờ sông Luồng có nhiều hòn mang hình thù kỳ dị, bắt mắt. Có một nơi trông tựa “buồng tiên nữ”, hay còn gọi là hang Xá Pắm Xá, nghĩa là người Khơ Mú vật người Khơ Mú.

Tương truyền, tộc người Khơ Mú rất giỏi võ, họ thường xuyên chọn những cảnh quan đẹp để thi thố. Trong một lần, xuôi bè từ mường Xia, thuộc xã Sơn Thủy về mường Ca Da, ngang qua hang Phi thấy cảnh quan đẹp, họ dừng lại lập lán trại, tổ chức thi vật lâu đến nỗi, thân thể như tôi luyện thành thép, có thể chui lọt qua các hốc đá. Các hốc đá ngày càng rộng thêm, và Xá Pắm Xá là một minh chứng.

Ở cuối hang Phi lớn, nếu mực nước sông Luồng dâng cao, khi xuôi bè thường bị mắc kẹt, trượt ngã, thậm chí có người bị tan bè rơi xuống sông. Thế nên, người dân nơi đây thường truyền tai nhau về sự xuất hiện của ma quỷ. Hang Phi từ đó càng mang đậm tính chất huyền ảo, kỳ bí.

 hang Phi.jpg

Cầu treo dẫn vào hang Phi.

Thiên nhiên ban tặng cho hang Phi mang một vẻ đẹp thơ mộng, huyền bí, nhưng có lẽ đẹp nhất là trên trần của vòm hang. Có chỗ những nhũ đá lởm chởm như răng quỷ, có chỗ như đầu voi, sư tử. Do dòng chảy có độ chênh lớn, tạo ra những âm thanh của nước khi va đập vào vách hang, có lúc như giai điệu khèn bè gọi người yêu, có lúc như tiếng trống chiêng trong ngày hội làng, có lúc réo rắt như tiếng sáo...

Những “dấu chân” lịch sử

Những năm trước đây, hang Phi còn có tên gọi khác là hang Tiêu Hậu. Truyền thuyết kể lại, cách đây cũng đã lâu lắm rồi, ở dưới Chiềng Ca Da có vợ chồng Tiêu Hậu lên khai khẩn đất hoang, đánh cá tại đây. Do có vòm hang rộng, có thể che nắng, che mưa, nên vợ chồng Tiêu Hậu vào ở. Từ đó người dân Mường Ca Da mới đặt tên hang Tiêu Hậu.

Dưới thời giặc Minh xâm lược, đồn Tùng Hóa thuộc trại Quan Da là một cứ điểm lớn của quân Minh (nay thuộc bản Khằm, xã Hồi Xuân, huyện Quan Hóa). Từ cứ điểm này, quân giặc thường xuyên càn quét, quấy nhiễu, cướp bóc người dân các bản làng. Mất nhà, mất cửa nhiều người chỉ còn cách chạy vào rừng ẩn nấp, tránh sự truy sát của kẻ thù.

Tháng 6/1420, vua Lê Lợi cắt cử Thượng tướng Thống lĩnh quân Lò Khằm Ban và tướng Lê Sát, Lê Hào dẫn quân đánh quân Minh tại cứ điểm Tùng Hóa và trại Quan Da. Trận tiến công đồn Tùng Hóa diễn ra căng thẳng, quyết liệt, quân ta giành thắng lợi. Ngay sau trận đánh, quân ta đã gom thi hài binh sĩ tử trận chôn cất tại khu rừng ngay cạnh hang Tiêu Hậu phía hữu ngạn sông Luồng, đồng thời lập đàn tế hương hồn các binh sĩ tử trận tại đây. Cũng từ đó, hang Tiêu Hậu được đổi tên thành hang Phi.

Trước đây, đường đi tuyến sông Luồng, mùa nước to thì phải đi thuyền, nước nhỏ người lội qua, đồng thời ghé thăm nghĩa địa - nơi an nghỉ của tướng sĩ Lam Sơn, sau đó mới lên được vùng trên. Qua thời gian, con đường hang Phi được mở mang, tu sửa, nhân dân đi lại làm ăn, buôn bán thuận tiện hơn.

Năm 1942, vua Bảo Đại có ghé thăm vùng đất này, đến hang Phi thắp nhang thành kính đến hương hồn các tướng sĩ tử trận của nghĩa quân Lam Sơn. Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, hang Phi trở thành cứ điểm quan trọng, nhằm mai phục, chặn đánh các cuộc hành quân của địch từ thượng nguồn sông Luồng về hạ nguồn sông Mã.

Phía hạ nguồn sông Luồng khoảng 300m có hang Mó Tôm, ở bên kia bờ có một ngọn núi sừng sững hiện lên trước mặt, đó là núi Pha Cáng. Dưới lưng chừng núi có một hang lớn và hai hang nhỏ liền kề nhau, gọi là hang Lụng Mu, cao hơn so với mặt sông Luồng 200m. Ngay cửa hang, hàng chục chiếc quan tài bằng gỗ nằm la liệt, với nhiều hướng khác nhau, nhưng không còn di cốt bên trong. Quan tài được chế tạo bằng những tấm gỗ cứng sẵn có ở địa phương. Với đường lên hang có độ dốc cao, đá tai mèo vô cùng hiểm trở, đi lại vô cùng khó khăn, việc chuyển những cỗ quan tài nặng cả trăm cân lên vách núi đá dựng đứng quả thực kỳ lạ?

Những cỗ quan tài gỗ treo trên vách núi

Theo lời kể của người dân địa phương, trên mảnh đất Quan Hóa chứa đựng nhiều câu chuyện li kỳ về lịch sử hang Phi, về những cỗ quan tài bằng gỗ được nằm cheo leo trên vách núi dựng đứng. Vậy, người xưa làm cách nào để thực hiện được điều đó?

Theo khảo sát, ở xã Hồi Xuân, hiện có một số hang động nằm trên những vách đá dựng đứng cạnh dòng sông Mã, sông Lò, sông Luồng. Ở những nơi đó người xưa đã sử dụng để chôn cất, treo những cỗ quan tài người đã khuất.

Thông qua một số tài liệu hiện còn lưu giữ, cách đây trên một vạn năm đã xuất hiện người tiền sử. Đến nay, những vết tích của người xưa hiện vẫn còn tồn tại trong hệ thống các hang động, vách đá. Trong đó, không thể không nhắc đến những cỗ quan tài được chôn, treo trên những hang động hiểm trở.

 Một số quan tài gỗ được phát hiện tại hang Ma.JPG

Một số quan tài gỗ được phát hiện tại hang Ma.

 Một số quan tài gỗ được phát hiện tại hang Ma (1).JPG

 Một số quan tài gỗ được phát hiện tại hang Ma (2).JPG

Vượt qua hơn 4 giờ đi xe máy, có mặt tại huyện Quan Hóa, được sự chỉ dẫn của một cán bộ văn hóa huyện, chúng tôi lần lượt khám phá các hang động Lũng Mu, Ko Phày, Pha Ké. Đứng trên độ cao 1.000m, một cảm giác sợ hãi chạy dọc sống lưng, đường lên hang vô cùng hiểm trở, nguy hiểm.

Những hang động này được xác định là khu động táng của người Thái cổ, với rất nhiều cỗ quan tài bằng gỗ. Theo một số nhà khảo cổ, khu động táng này ra đời vào thời đại Kim khí, trước - sau Công nguyên một thế kỷ, kéo dài đến thời Trần - Lê. Tục động táng, mang tính truyền thống tại nhiều tộc người của vùng Đông Nam Á.

Tại hang Lũng Mu, trên địa bàn bản Khằm, xã Hồi Xuân, thuộc dãy núi Pha Lý, có cửa rộng, đi sâu phát hiện hang có 3 ngăn. Ngăn chính có trần hang, cao khoảng hơn 20m, được bố trí thành 3 cấp. Trên cùng có 2 giá đỡ đặt 2 cỗ quan tài đủ nắp đậy; ở cấp thứ 2 là sàn ván gỗ rộng 4,45m, dài 4,7m; cấp thứ 3 - cấp cuối cùng đặt gần 30 cỗ quan tài, ván bị bật tung.

Ngăn thứ 2 có diện tích nhỏ hơn và cao hơn ngăn chính 2,5m, trong đó có 5 bộ quan tài. Tiếp đó, ngăn thứ 3 lại thấp hơn, chứa 40 quan tài cũng trong tình trạng bị lật nắp thiên. Tổng cộng hang có 75 bộ quan tài.

Sau khi tìm hiểu hang Lũng Mu, chúng tôi tiếp tục khám phá hang Ko Phày, Pha Ké phát hiện thêm 10 bộ quan tài. Đặc biệt tại hang Pha Ké có 5 hang động đặt và treo quan tài trên những vách núi tai mèo dựng đứng.

Bí mật dần hé lộ

Theo nghiên cứu của Hội Khoa học Lịch sử Thanh Hóa, cùng nhiều nhà nghiên cứu lịch sử, khảo cổ trong và ngoài tỉnh, tại hang Pha Ké, phát hiện một số mảnh gốm thô, ốc núi và mảnh xương có dấu đẽo, mài thuộc văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn. Ngoài ra còn có một số hạt mã não, 1 dao sắt, 1 đồng tiền có chữ “Khai nguyên thông bảo”.

Ở hang Pha Ké 3, nằm ở lưng chừng núi, trong hang có đặt 2 quan tài đặt trên giá treo. Một đầu giá tựa vào vách núi, còn đầu kia tựa trên cột. Hang Pha Ké 4 đặt 4 quan tài; hang Pha Ké 5 cao hơn 100m so với mặt nước sông Mã, đặt 5 quan tài, cùng một số xương, răng cùng gốm, sứ... ở giai đoạn muộn.

Đáng chú ý, tất cả quan tài táng trong các hang động đều được chế tác từ những thân cây gỗ lớn, đục khoét rỗng thân. Ở hai đầu của tấm thiên và tấm địa để lại tay khiêng dài 0,02m. Về kích thước, quan tài lớn thường có chiều dài 3,3m, rộng 0,50m, sâu lòng 0,20m - 0,25m.

Qua những di vật được phát hiện ở hang Pha Ké 1, Pha Ké 2, các nhà khảo cổ, dân tộc học, nghiên cứu bảo tàng, di tích đều cho rằng tục treo, đốt quan tài trên các hang đá có thể bắt đầu từ thời văn hóa Đông Sơn. Chủ nhân của kiểu táng thức này có thể của tộc người Thái - một tộc người từng có một quá trình cư trú lâu dài ở đây.

Có một điều lạ, trong tất cả hang đặt, treo quan tài ở Hồi Xuân, Quan Hóa, phần lớn nằm trên độ cao lớn ven sông. Đường lên hang cheo leo, vách đá dựng đứng. Đi lại rất khó khăn, nguy hiểm. Với địa hình phức tạp như vậy, người xưa đã dùng cách nào để có thể di chuyển những cỗ quan tài lên hang? Một số bậc cao niên địa phương lý giải, chỉ có cách dùng dây kéo, đẩy dần lên mới có thể di chuyển được bộ quan tài nặng hàng tạ từ dưới lên. Tuy nhiên, điều này mới trên giả thuyết, chưa ai kiểm chứng.

Và câu hỏi đặt ra là làm cách nào để đưa những cỗ quan tài nặng hàng tạ lên hang động cao hơn mặt đất cả hàng trăm mét với vách đá tai mèo lởm chởm, dựng đứng; và việc đưa lên nhằm ý nghĩa gì... vẫn chưa có lời giải thỏa đáng.

Trung Lê

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1


Dự báo thời tiết Thanh Hóa