GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Khu di tích Lăng miếu Triệu Tường: “Sản phẩm văn hóa” của một vương triều

Đăng lúc: 03/07/2019 12:00 (GMT+7)

- Vẫn được gọi tên là đất quý hương, vùng đất cổ Gia Miêu nay là xã Hà Long (Hà Trung) chứa đựng trong mình tầng, lớp giá trị văn hóa. Không chỉ là nơi “phát phúc” của vương triều Nguyễn, ở Gia Miêu hôm nay còn là những câu chuyện, vết dấu của những di tích, công trình kiến trúc in đậm dấu ấn vương triều vô cùng độc đáo.

 khu vực khai quật khảo cổ trong Khu di tích Lăng miếu Triệu Tường.JPG

Các đồng chí lãnh đạo tỉnh, Sở VH,TT&DL, nhà khoa học tham quan khu vực khai quật khảo cổ trong Khu di tích Lăng miếu Triệu Tường.

Đất quý hương - nơi “phát phúc” hoàng tộc Nguyễn

Thời gian vẫn được ví như “liều thuốc thử” cho vạn vật xuất hiện và tồn tại trong cuộc sống. Điều gì không vượt qua được sức mạnh của thời gian, buộc phải chấp nhận quy luật đào thải. Vậy còn những giá trị đã được khẳng định qua sự tôi luyện của thời gian sẽ trở nên vô giá! Dù trăm năm, ngàn năm thì lịch sử vẫn có những lý lẽ của riêng mình.

Tìm về vùng đất cổ Gia Miêu ngoại trang hôm nay, vẫn là những thoai thoải núi thấp, đồi cao xanh mướt mắt với khung cảnh làng quê trù mật. Có cảm giác, nơi đây từ bao đời nay vẫn vậy: yên bình thăm thẳm với không gian văn hóa cổ kính linh thiêng chứa đựng trong mình những dấu tích của người xưa. Lắng lòng trong không gian thiêng của những đình Gia Miêu; nhà thờ họ Nguyễn; lăng Trường Nguyên; miếu Triệu Tường... là tiếng vọng về của lịch sử cùng những chuyện xưa tích cũ gắn liền với câu chuyện của một dòng họ - một vương triều.

Người ta gọi tên vùng đất Gia Miêu là “quý hương”. Là thủy tổ của dòng họ Nguyễn trên con đường di cư khai khẩn đã chọn dừng chân ở vùng đất tốt hay sự tụ hội, phát triển của một gia tộc tại nơi đây đã mang đến sự phồn vinh cho vùng đất này? Máy móc đi tìm câu trả lời cho sự nghi vấn ấy có lẽ cũng là điều không thực cần thiết. Ngược thời gian, theo gia phả dòng họ Nguyễn ở đất Gia Miêu, từ thủy tổ Nguyễn Bặc vốn người miền ngoài, trên con đường lánh nạn, tìm nơi lập nghiệp đã chọn dừng chân ở đất Gia Miêu, xây dựng đời sống, phát triển kinh tế, tạo nên một Gia Miêu ngoại trang tiếng tăm lẫy lừng, trù phú no đủ. Trước mối họa xâm lăng giặc Minh, theo lời hiệu triệu dựng cờ nghĩa diệt giặc của Bình Định vương Lê Lợi, hậu duệ của dòng họ Nguyễn ở đất Gia Miêu là Nguyễn Công Duẩn đã mang tất cả sản nghiệp tiên tổ tham gia khởi nghĩa Lam Sơn, phò tá Lê Lợi đánh đuổi giặc Minh xâm lược. Sau 10 năm nếm mật nằm gai, trên dưới một lòng, khởi nghĩa Lam Sơn đã đi đến ngày toàn thắng, đánh dấu bằng sự ra đời của vương triều Hậu Lê. Và Nguyễn Công Duẩn được vua Lê Thái Tổ phong Bình Ngô khai quốc công thần. Đất Gia Miêu từ đây lại thêm phần tươi tốt.

Nhà Hậu Lê sau thời gian dài hưng thịnh bắt đầu bộc lộ những dấu hiệu suy vi, đánh dấu biến cố bởi sự tiếm ngôi của nhà Mạc năm 1527. Lúc bấy giờ hậu duệ của dòng họ Nguyễn ở đất Gia Miêu, cựu thần nhà Lê - Nguyễn Kim vốn là người có đầu óc tổ chức. Ông đã tìm ra con đường khôi phục nhà Lê, mở ra thời kỳ mới trong lịch sử Đại Việt: thời kỳ Lê Trung Hưng. Cùng với việc khôi phục vương triều nhà Lê, Nguyễn Kim đã dốc lòng cùng vua lo toan việc triều đình, được vua Lê phong Thái sư Hưng quốc công. Sự nghiệp trung hưng nhà Lê diễn ra những tưởng tốt đẹp thì biến cố xảy đến, Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim bị kẻ gian ám sát năm 1545. Cũng từ đây, đánh dấu những biến cố xảy đến không chỉ với vương triều nhà Lê mà còn cả với hậu duệ dòng họ Nguyễn.

Với tài năng, chí hướng hơn người, con trai Nguyễn Kim là Nguyễn Hoàng đã quyết nuôi mộng lập nghiệp về phương Nam theo lời khuyên của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm, rằng: “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân”. Rời quê hương Gia Miêu, rời đất Thăng Long kinh kì đô hội, chàng trai trẻ Nguyễn Hoàng cùng gia nhân thân tín xuôi thuyền về Nam, quyết tâm lập nghiệp. Tháng 10 năm 1558, Đoan Quận công Nguyễn Hoàng phụng mệnh vua Lê vào trấn trị ở dinh Ái Tử (Quảng Trị ngày nay). Với chí lớn, ông ra sức xây dựng cơ đồ, bắt đầu từ việc an dân, vỗ về trăm họ, thu dùng người hào kiệt, giảm sưu thuế... tiếng lành đồn xa, lòng dân mến phục. Người dân theo chân vào đất phương Nam lập nghiệp ngày một đông. Đặc biệt, người dân Thanh Hóa còn theo Nguyễn Hoàng tiến sâu vào miền Tây Nam Bộ để khai hoang, lập làng, đặt nền móng cho công cuộc mở mang lãnh thổ đất nước về phương Nam của dân tộc Việt. Sau khi mất, Nguyễn Hoàng được tôn phong là Chúa Tiên. Đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu, bờ cõi phía Nam của nước Đại Việt đã kéo dài đến tận mũi Cà Mau. Quần đảo Hoàng Sa được quản lý từ thời chúa Nguyễn Hoàng, đến thời chúa Nguyễn Phúc Chu thì quần đảo Trường Sa cũng được nhà Nguyễn tổ chức cai quản. Đây cũng được xem là thời kỳ đánh dấu sự định hình của lãnh thổ nước Việt đến ngày hôm nay.

 Lăng Trường Nguyên - nơi an táng Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim.JPG

Lăng Trường Nguyên - nơi an táng Chiêu Huân Tĩnh công Nguyễn Kim.

Sau biến cố của nhà Tây Sơn, năm 1802, hậu duệ đời thứ 11 của Nguyễn Kim là Nguyễn Phúc Ánh đã lên ngôi thống nhất Đàng Trong - Đàng Ngoài thành nước Việt Nam, lấy niên hiệu Gia Long, định đô ở kinh thành Huế. Cùng với những nỗ lực trong việc củng cố quyền lực, xây dựng đất nước thì vua Gia Long cũng không quên dành sự quan tâm đặc biệt cho vùng đất gốc tổ Gia Miêu. Và từ đây, một “kinh đô” thờ tự ở đất quý hương bắt đầu được dựng xây với tâm huyết của vua Gia Long và các triều vua Nguyễn về sau.

Sản phẩm văn hóa của một vương triều

Lại nói về Thái sư Hưng quốc công Nguyễn Kim, sau khi đột ngột bị ám sát, thi hài ông được bí mật đưa về an táng ở vùng núi Triệu Tường (núi Thiên Tôn) nơi đất Gia Miêu. Tuy nhiên, vì để tránh sự dòm ngó trả thù của các thế lực thù địch lúc bấy giờ nên nơi an táng của ông trở thành một bí mật với người đương thời. Khi vua Gia Long lên ngôi, ông đã cho xây dựng, sửa sang lăng mộ của Triệu Tổ (Nguyễn Kim) uy nghi. Đến năm Minh Mạng thứ ba (1822), trong một lần về bái yết tổ tiên, vua Minh Mạng lại cho dựng lên một tấm bia khắc nội dung: “Đất lớn chúa thiêng sinh ra Triệu Tổ; Vun đắp cương thường nên rạng thánh võ; Nghĩa động quỷ thần công truyền vũ trụ; Cõi trần rời bỏ lăng ở Bái trang... Mệnh trời đã giúp con cháu tinh anh; Võ công dựng nước bèn tìm nguồn gốc; Tuy tôn dựng miếu lăng gọi Trường Nguyên; Tân tuy Bắc tuần đến đây dựng lại; Trông ngắm non sông nhớ đến gốc cõi; Khắc chữ vào bia lưu ức vạn tài”. Tương truyền, để tạo nên sự uy nghi bất khả xâm phạm cho nơi yên nghỉ thiên thu của tiên tổ nhà Nguyễn, người đời sau đã dân gian hóa câu chuyện huyền thoại ở núi Triệu Tường, đến nay câu chuyện ấy vẫn được lưu truyền kể lại.

Cùng với lăng Trường Nguyên thì các vua nhà Nguyễn cũng cho khởi dựng ở Gia Miêu quần thể miếu thờ trang nghiêm với hai công trình trung tâm là Nguyên Miếu (thờ Nguyễn Kim và Nguyễn Hoàng và Trừng Quốc công miếu (thờ thân phụ của Nguyễn Kim). Xung quanh là các công trình phụ trợ: cổng thành, lũy, hồ bán nguyệt; tường miếu; cổng phụ; nhà công quán... Qua thời gian cùng những biến cố thời đại, di tích ngày hôm nay ít nhiều chỉ còn lại nền móng cũ và lưu giữ trên những tài liệu sử sách.

Với mục tiêu bảo tồn, tôn tạo và phát huy giá trị di tích lịch sử lăng miếu Triệu Tường, khu di tích đã và đang được tỉnh Thanh Hóa phối hợp với cơ quan chức năng vào cuộc từng bước thận trọng. Bắt đầu từ việc khai quật khảo cổ di tích của các nhà khoa học đến từ Viện Khảo cổ học. Bước đầu, các nhà khoa học đã khẳng định di tích lăng miếu Triệu Tường chính là Quốc miếu của nhà Nguyễn trên đất Thanh Hóa. Dấu tích khu Lăng miếu của hoàng tộc Nguyễn ở đất Gia Miêu có mặt bằng quy mô, cấu trúc khác lạ, kỹ thuật xây dựng cầu kì, công phu bậc nhất so với các khu lăng mộ ở Việt Nam được biết đến. Theo đó, tổng thể kết cấu kiến trúc của di tích là “thành ngoài - miếu trong”: bên ngoài là lũy thành, hào nước, bên trong là tường bao xung quanh, lấy Nguyên miếu là trung tâm. Mặt bằng kiến trúc sau khi khai quật cũng khẳng định sự quy chuẩn, đăng đối giữa các công trình... Bước đầu so sánh, các nhà nghiên cứu đồng thuận cho rằng di tích Lăng miếu Triệu Tường của Hoàng tộc Nguyễn có nét tương đồng với Thế miếu ở kinh thành Huế. Nếu Thế miếu là nơi thờ các chúa và vua Nguyễn thì Lăng miếu Triệu Tường là khu vực thờ gốc tổ nhà Nguyễn ở đất cố hương. Và xét ở góc độ nào đó, khu di tích được xem là “nơi phát phúc” của Hoàng tộc Nguyễn. Do đó, trong suốt thời kỳ tồn tại của vương triều Nguyễn, khu di tích thường xuyên nhận được sự quan tâm đầu tư, tôn tạo, canh phòng nghiêm cẩn. Với sự chăm chút tâm huyết dành cho di tích ở đất cố hương, khu di tích được ví như “sản phẩm văn hóa” của vương triều, nơi hội tụ tinh hoa trên các lĩnh vực kiến trúc, điêu khắc trang trí, nghi lễ thờ cúng... đặc trưng của thời đại. Di tích với những dấu tích còn sót lại cũng phần nào phản ánh trình độ kỹ thuật và văn minh của cha ông ta thời Nguyễn. Trong hội nghị báo cáo sơ bộ kết quả khai quật, khảo cổ tại khu di tích Lăng miếu Triệu Tường, PGS.TS Tống Trung Tín - Ủy viên Hội đồng di sản Quốc gia, Chủ tịch hội Khảo cổ học Việt Nam khẳng định: “Thành công của cuộc khai quật khảo cổ sẽ góp phần tìm ra phương án tối ưu cho việc bảo tồn, phát huy giá trị di tích”.

Được xem là một món quà tặng cho “cố hương”, năm 1804, vua Gia Long đã hạ lệnh cho xây dựng đình Gia Miêu - công trình kiến trúc gỗ độc đáo, đặc sắc bậc nhất thời bấy giờ. Đình thờ Thành hoàng làng Nguyễn Công Duẩn, khai quốc công thần nhà Hậu Lê và cũng là người có công lớn trong việc dựng xây, phát triển vùng đất Gia Miêu ngoại trang. Theo một số tài liệu sử, đình Gia Miêu là công trình kiến trúc gỗ bề thế với những mảng chạm khắc tinh tế, cầu kì theo hình thức tứ linh, tứ quý bởi bàn tay tài hoa của người nghệ nhân xưa. Di tích đình Gia Miêu được đánh giá công trình kiến trúc gỗ thời Nguyễn tiêu biểu trên đất Thanh Hóa. Nằm trong quần thể Lăng miếu Triệu Tường; nhà thờ họ Nguyễn; đình Gia Miêu đã tạo nên một không gian văn hóa kiến trúc cổ xưa linh thiêng và bề thế. Quần thể di tích ngày hôm nay không chỉ là nơi để hậu duệ dòng họ Nguyễn thực hiện nghi thức thờ cúng tiên tổ. Trở về đất quý hương, hậu thế hôm nay như đi tìm lại một phần lịch sử của dân tộc, nhiều biến động nhưng rất đỗi tự hào.

Thu Trang

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1