GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Hổ Bái - làng cổ gần năm nghìn năm tuổi

Đăng lúc: 11/02/2018 10:01 (GMT+7)

- Không biết có một nơi nào nữa ở tỉnh Thanh Hóa nói riêng, nước Việt Nam nói chung có sự đặc biệt như thế hay không, nhưng ở huyện Yên Định, 29 xã, thị trấn, chỉ có một. Đó là xã Yên Bái. Đó là làng Hổ Bái. Xã Yên Bái duy nhất một làng Hổ Bái. Duy nhất làng Hổ Bái thành một xã Yên Bái.

Theo Ngọc phả làng Hổ Bái thì Thần Hoàng làng là thần Hợp Lang (có chỗ gọi Thánh), người con thứ mười một của Hùng Vương. Truyền thuyết (Bách khoa toàn thư mở Wikipedia) kể rằng, Lạc Long Quân lấy bà Âu Cơ sinh ra một cái bọc có trăm trứng. Trăm trứng nở thành một trăm người con trai. Người con cả của Âu Cơ được chọn làm vua, gọi là Hùng Vương. Ông lên ngôi vào năm 2879 trước công nguyên (TCN), đặt quốc hiệu là Văn Lang, chia nước làm 15 bộ. Hợp Lang, người con thứ mười một của Vua Hùng, là tướng Văn, được phong tước Lạc Hầu. Từ truyền thuyết đến Ngọc phả đều chép rằng, thần Hợp Lang diện mạo khác thường. Lạc hầu được vua chia ở phủ Hoài Hoan. Lạc hầu ngao du theo dòng sông Mã, tìm đến sông ngòi nước biếc đất linh thiêng. Ngài một mình hiện hình đến đất Trang Trân Bái ở huyện Yên Định, thấy đây là nơi giao tụ nước biếc linh thiêng, trong lành, hình sông thế núi uyển chuyển với giải đất anh linh trọng yếu. Lạc Hầu gọi cụ già họ Trịnh Bản Trang cho xây dựng một ngôi đền thờ ở bên sông (trên chính mảnh đất của đền Hổ Bái ngày nay). Công việc xong, Lạc Hầu biến về thủy cung (tức ngày 4/4). Từ đó hàng năm đến ngày mùng 4/4 nhân dân tiến hành lệ hương đèn cúng tế.

Theo Địa chí xã Yên Bái, ngọc phả làng Hổ Bái, thần Lạc Hầu Hợp Lang, người con thứ mười một của Vua Hùng khi ngược thuyền từ Hàm Rồng sông Mã lên đến đây, thấy cảnh trí, hình sông thế núi vừa tươi đẹp trù phú, vừa có địa thế quân sự tốt nên đã cho lập làng, kêu gọi dân các nơi đến sinh sống. Tên làng đầu tiên là Trang Trân Bái. Đến cuối thế kỷ 16, cái tên Trang Trân Bái vẫn còn trong các văn bản hành chính. Thần Lạc Hầu Hợp Lang được thờ là Thần Hoàng của làng. Nếu nhìn từ trên cao, Cựu Mã Giang là Thiên Nhãn - mắt trời. Làng Trang Trân Bái chính là con ngươi thiên nhãn, đền Hổ Bái là hoàng điểm trong võng mạc của Thiên Nhãn vĩ đại mà tạo hóa tạo nên. Ba con sông: sông Mã, sông Cầu Chày, sông Chu tạo thành chữ tam, gần chữ Vương. Cách nhìn ấy đúng với mệnh của Hợp Lang là mệnh thủy, vua miền sông nước. Điều đó lý giải rằng, tại sao hơn bốn nghìn năm nay, qua bao thăng trầm biến thiên của lịch sử, một làng Trang Trân Bái cách đây gần năm nghìn năm vẫn nguyên làng Hổ Bái. Từ một làng Hổ Bái lớn thành sáu giáp (sáu làng): Yên Đông, Yên Lý, Yên Lọc, Yên Đức, Yên Phúc, Yên Thành. Sáu giáp ấy thành một xã Yên Bái với diện tích 5km², dân số hơn bốn nghìn người, mật độ dân số đạt 774 người/km². Hổ Bái là đất trồng cam (cam chanh, cam giấy, cam đường) ngon nổi tiếng, không một địa phương nào ở huyện Yên Định có được. Về cấu trúc xã hội, từ một cụ già họ Trịnh Trang Trân Bái nay có hơn mười dòng họ quần tụ sinh sống (trong tổng số bốn mươi dòng họ của huyện Yên Định), xây dựng quê hương ngày một giàu đẹp; có nhiều dòng họ lớn như họ Trịnh, họ Lưu, họ Nguyễn, họ Hà, họ Lê. Dòng họ nào cũng có người nổi danh trong lịch sử.

 Cổng đền làng Hổ Bái.jpg

Cổng đền làng Hổ Bái.

Ông Nguyễn Hữu Chi đưa tôi sang thăm ngôi đền thờ Lạc Hầu Hợp Lang - Đền Hổ Bái, được Bộ VH,TT&DL xếp hạng Di tích lịch sử cấp Quốc gia, ngày 12/8/1993. Theo ông Nguyễn Hữu Chi, liên quan đến đền Hổ Bái (hay nghè Hổ Bái) có bốn sự kiện lớn. Sự kiện thứ nhất là Thần Lạc Hầu Hợp Lang chọn đất cho dựng ngôi đền cách đây gần năm nghìn năm. Đây là sự kiện quan trọng nhất. Sự kiện thứ hai là Bà Trưng về đền cầu anh linh Vua Hùng, Tổ tiên linh thiêng phù hộ để diệt giặc ngoại xâm bảo vệ bờ cõi. Ngọc phả đền Hổ Bái ghi rằng, năm 40 sau công nguyên, để trả thù cho chồng bà là Thi Sách, bị tên Thái thú Tô Định giết chết, Bà Trưng Trắc cùng em là Trưng Nhị phất cờ khởi nghĩa ở Mê Linh. Bọn giặc nhà Hán cử Mã Viện và Lưu Long đem ba bốn chục vạn quân sang để báo thù. Bà Trưng sai sứ thần về đền thờ Lạc Hầu Hợp Lang ở Trang Trân Bái cầu khấn mong được Tổ tiên anh linh giúp đỡ. Lời khấn cầu linh ứng. Hai Bà cùng nghĩa quân đã đánh tan quân giặc. Hai Bà về đất Trang Trân Bái mở hội ăn mừng, khen thưởng úy lạo quân dân trong một tháng, bắt đầu từ mùng 9/2 âm lịch. Hai Bà ban thưởng cho nhân dân tiền công 60 quan để đền ơn, ban thêm cho ông nhà họ Trịnh tiền bạc 2 lượng, lại hạ lệnh cho nhân dân bản Trang Trân Bái chia làm hai đạo thần tử theo tạo lập hai bên sông để làm hai khu tả hữu án giữ danh giới sông. Lại hạ mệnh tu sửa Đền thờ chính ở đất đó. Cùng kỳ hương hoả phụ thờ ban cấp tiền công 27 quan, cho phép được miễn binh lương, phong mỹ tự chữ đẹp là: Thượng đẳng phúc thần lớn cùng đất nước mãi mãi thịnh vượng; Phong đương cảnh thành hoàng hiển hách anh linh tu tề giúp nước; Thượng đẳng phúc thần đại vương. Cho phép hai khu tả hữu Trang Trân Bái huyện Yên Định phủ Thiệu Thiên, Châu Hoan làm bãi hộ thần thờ hương hoả. Sự kiện thứ ba: Năm Trùng Hưng thứ hai, triều Trần Nhân Tông (1286), đất nước vừa đánh tan năm mươi vạn quân giặc Mông Nguyên(1285), lại bị hạn hán khốc liệt kéo dài. Mùa màng thất bát, dân chúng đói kém. Hàng trăm vạn kẻ thù lại đang rình rập tấn công lần nữa. Trần Nhân Tông lệnh cho các Đình thần trở về chính ngôi Đền thờ thiêng ở Trang Chân Bái làm lễ tế cầu đảo, được 3 ngày tự nhiên trời giáng xuống cơn mưa lớn. Vua cho là linh thiêng, lệnh truyền cho các cụ già bản Trang Trân Bái tiến hành làm lễ tạ cầu đảo ban thưởng thêm tiền 28 quan để làm việc tế thờ xuân thu hai kỳ bằng tiền công. Tặng phong mỹ tự là: Thượng đẳng phúc thần muôn đời được thờ cúng tới vô cùng vậy. Nhà vua sắc phong thần đền Trang Trân Bái là Đương cảnh Thành Hoàng hiển hách anh linh, cứu tế rộng khắp, cho phép hai bên tả hữu Trang Trân Bái huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên, đạo Thanh Hoá phụng thờ y như trước. Ngày sinh, ngày mất, tên huý thờ lệ khai ra sau: Ngày sinh Thánh Hợp Lang (có chỗ gọi là thần): Ngày 25/8; Ngày mất của Hợp Lang: Ngày 4/4; Ngày mùng 9/2; Ngày làm lễ khánh tiết 13/11. (Tên kiêng huý hai chữ Hợp Lang nhất thiết cấm, khi tiến hành làm lễ, sắc trắng không được mặc vì điều cấm). Sự kiện thứ tư liên quan đến đền Hổ Bái. Hưởng ứng chiếu Cần vương của vua Hàm Nghi (1988), nhân dân Trang Trân Bái đã tập hợp đội quân theo Hàm Nghi chống Pháp. Một bộ phận lãnh tụ của cuộc chiến đấu từ Ba Đình (Nga Sơn) về đóng ngay tại đền Hổ Bái. Bọn Pháp đem một trung đội có đầy đủ súng ống về đàn áp. Nhân dân Hổ Bái chiến đấu rất kiên cường. Bỗng một hôm, ngôi đền bốc cháy dữ dội. Từ cổng Nghinh môn, đền chính, tẩm cung, tượng, ngọc phả đều biến thành tro bụi. Có người bảo giặc Pháp đốt. Có người cho rằng, chính nghĩa quân Cần vương đã đốt. Một mặt họ lý giải, ngôi đền thiêng liêng đã bị bọn Pháp làm ô uế phải đốt đi; một mặt họ lý giải, nghĩa quân đã đốt đền để giết sạch trung đội lính Pháp. Dù nguyên nhân nào thì ngôi đền sau lần hỏa hoạn ấy cũng không còn nữa. Nhưng chỉ tám năm sau, đến đời vua Thành Thái (1896), nhân dân Hổ Bái đã quyên góp tiền của dựng lại toàn bộ ngôi đền to lớn đẹp đẽ như cũ. Hổ Bái vừa kỷ niệm 100 năm đền Hổ Bái năm ngoái. Năm gian đền chính làm bằng gỗ lim. Hai gian tẩm cung mái vòm hạ thấp phía sau. Cổng Nghinh môn uy nghi đồ sộ. Trong khuôn viên của đền có những cây thông mấy trăm năm tuổi. Trước cổng đền là cây gạo gốc ba bốn người ôm. Mùa hè tới, hoa đỏ rực trời. Chỉ khác một chút là, trước kia, đền ngoảnh mặt ra sông, bây giờ, đền quay lưng ra sông. Trước mắt tôi, ngôi đền đã xuống cấp trầm trọng. Mấy hàng cột sơn nửa đỏ, nửa nâu. Hai bức hoành phi đại tự: Thánh thọ vô cương Vạn cổ anh linh đã xuống màu sơn. Ông Chi bảo, chẳng hiểu dự án tu sửa thế nào, bao nhiêu cột thợ đem sơn đỏ. Phát hiện thấy không đúng, Sở văn hóa ra lệnh dừng lại. Và nó dừng bao nhiêu năm đến giờ chưa khởi động lại. Bên phải lối vào đền là nhà bia tưởng niệm các Anh hùng liệt sĩ của xã Yên Bái. Tôi nhìn vội thấy tên Anh hùng Lưu Thế Hà ghi dòng đầu tiên trên bia. Tiếp theo là 144 liệt sĩ. Được dẫn tới từng địa danh dấu cũ, nghe ông Nguyễn Hữu Chi giảng giải, tôi hiểu thêm Cồn Tắt, Mã Biến, bến Đò Lo. Thú thật, nghe ông giải thích bến Đò Lo tôi mới hiểu dòng Cựu Mã giang không chỉ có một dòng sông mà là hai dòng sông. Nơi chúng tôi vẫn gọi mau Hà Đông - Lạc Tụ hóa ra từng là dòng sông mênh mông cách đây hơn tám thế kỷ.

Theo ngọc phả làng Hổ Bái, hiện nay, Hổ Bái có bốn lễ hội chính trong năm. Bốn lễ hội ấy là: Ngày sinh Thánh Hợp Lang, 25/8; Ngày mất của Thánh Hợp Lang, mùng 4/4; Ngày Hai Bà về ăn mừng chiến thắng, tạ thần, khao dân, mùng 9/2; Ngày làm lễ khánh tiết 13/11 (tất cả đều tính theo ngày âm lịch). Ông Nguyễn Hữu Chi cho biết, bốn Lễ hội hàng năm ở Hổ Bái được quy định rõ thế nhưng hiện nay, hàng năm, làng Hổ Bái chỉ tập trung làm một Lễ hội chính là ngày mùng 9/2, ngày Hai Bà về tạ thần Hợp Lang, khao dân mừng chiến thắng. Trong Lễ hội tổ chức nhiều trò vui chơi ca hát, ôn truyền thống. Nhưng nội dung chính là thi làm bánh lá. Hai nghìn năm nay tục lệ ấy vẫn không bỏ. Bánh lá răng bừa nổi tiếng Yên Định, nổi tiếng Thanh Hóa, chính là bắt nguồn từ Hổ Bái.

Lễ hội là một truyền thống văn hóa đẹp được gìn giữ gần hai nghìn năm nay. Đó là niềm tự hào của làng Hổ Bái, xã Yên Bái. Đó cũng là niềm tự hào của cả huyện Yên Định. Nhất định đền Hổ Bái sẽ được trùng tu, tôn tạo xứng tầm văn hóa, lịch sử, truyền thống, sự linh thiêng và lòng thành kính nghìn năm ngưỡng vọng của nhân dân. Khách thập phương lại tấp nập về Hổ Bái để được thể nguyện tâm linh trước ngôi đền thờ Lạc Hầu Hợp Lang từ thời Hùng Vương gần năm nghìn tuổi.

Nguyễn Minh Khiêm

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1


Dự báo thời tiết Thanh Hóa