GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Hành trình khôi phục giếng làng (Bài 1): Ký ức

Đăng lúc: 12/12/2019 08:00 (GMT+7)

- Giếng làng được xem như long mạch của làng, là hồn quê, là nơi trữ nước - tinh khí của đất trời, là biểu tượng cho sự sinh sôi vững bền. Giếng làng còn được xem như một công trình mang giá trị văn hóa tâm linh. Qua thời gian, đến hôm nay trên đất xứ Thanh, giếng làng vẫn còn được nhiều địa phương bảo tồn, lưu giữ, phát huy và không ít nơi đã khôi phục lại giếng làng với tất cả niềm tự hào.

Có dịp về lại một số vùng quê xứ Thanh, được những người con của làng dẫn đến những chiếc giếng làng mới thấy hết được cái tình của người làng với giếng. Ở đó, vẫn là nguyên vẹn những ký ức ngọt ngào và đâu đó còn xen lẫn cả những tiếc nuối...

Giếng làng còn đây, vẫn đầy, vẫn trong...

Nước là nhu cầu thiết yếu của con người trong đời sống hàng ngày. Nếu trước đây, một hoặc hai làng chung nhau một cái giếng thì về sau này nhà nào cũng có giếng khoan, giếng khơi, nước máy nên những chiếc giếng làng cũng dần bị rời xa. Nhưng hiện ở nhiều nơi, người dân vẫn ra với giếng làng để lấy nước sinh hoạt và phục vụ sản xuất. Giếng làng vì thế vẫn không bị bỏ quên trong cuộc sống hiện đại hôm nay.

Ở xã Thăng Bình (Nông Cống) hiện chỉ còn duy nhất một chiếc giếng làng ở làng Ngọ Xá. Giếng có đường kính  4,5m, sâu 6,5m, nước giếng trong xanh và không bao giờ cạn kể cả những lúc hạn hán. Giếng được làm bằng đá ong, xây theo kiểu hình lòng chảo và ở dưới đáy giếng có một tảng đá to như cái nia. Theo các cụ cao niên thì giếng đã có cách đây khoảng vài trăm năm, từ khi làng Ngọ Xá được thành lập ở cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18.

 Giếng làng Ngọ Xá, xã Thăng Bình (Nông Cống).jpg

Giếng làng Ngọ Xá, xã Thăng Bình (Nông Cống).

Sau hàng trăm năm, giếng làng Ngọ Xá vẫn gắn bó thân thiết với người dân trong làng, từ đời này qua đời khác. Nhiều bà con ở đây đã lắp đường ống từ giếng kéo về nhà để lấy nước sinh hoạt. Điều đặc biệt, nước giếng làng Ngọ Xá cứ chảy quanh năm ra ngoài cánh đồng Mạ của làng. Trưởng làng Ngọ Xá, ông Phạm Ngọc Ly (70 tuổi) xúc động cho biết: "Dân làng Ngọ Xá trước đây sống nhờ vào giếng làng thì bây giờ vẫn vậy. Người dân vẫn ra giếng giặt giũ, vẫn 2,3 nhà chung một ống nước để lấy nước từ giếng về dùng. Cánh đồng Mạ không có nước giếng không gieo được mạ. Rau muống làng tôi nổi tiếng ngon, ngọt cũng nhờ nước giếng của làng. Chè xanh mà được pha (hãm) với nước giếng làng thì không chê vào đâu được".

Trong ký ức của ông Ly, từ đời ông nội, đời bố ông rồi đến đời ông, cứ vào đêm giao thừa, gia đình ông và bà con trong làng lại ra giếng để lấy nước về thờ cúng tổ tiên, những mong mang lại điều tốt lành cho một năm mới... Đến hôm nay, người làng Ngọ Xá vẫn giữ được phong tục này. Ông Ly nhớ lại: "Với chúng tôi, giếng làng vô cùng thiêng liêng. Đêm 30 tết, người làng tôi ra giếng đông lắm, người nào cũng có một chai nhỏ để đựng nước, mang về đặt lên ban thờ. Trách nhiệm của làng tôi là phải bảo tồn, gìn giữ giếng làng. Cách đây 9 năm, để chống xói lở đá, dân làng Ngọ Xá đã xây thêm 3 hàng đá ở thành đáy và 3 hàng đá ở thành trên. Mỗi khi thấy rêu nổi lên là người làng lại ra vớt cho sạch sẽ. Mỗi khi thau giếng xong, theo lời các cụ dặn là chúng tôi lại bỏ một ít muối cùng than gỗ xuống giếng".

Ông Ly cũng kể thêm một chi tiết đó là giếng làng Ngọ Xá như mẫn cảm với thời tiết bởi nhà ông ở ngay cạnh giếng nên ông có điều kiện ra với giếng nhiều hơn để thấy được rõ hơn sự thay đổi này. Có những ngày mặt giếng đổi màu, đổi từ màu xanh sang  hồng nhưng cũng có ngày chỉ đổi nửa giếng...

Lớp bụi thời gian thêm dày nhưng giếng làng Ngọ Xá qua hàng trăm năm vẫn đầy, vẫn trong, vẫn được sử dụng trong sinh hoạt hàng ngày... Chia sẻ của ông Vũ Hữu Thiện - Phó Chủ tịch UBND xã Thăng Bình: "Trước đây, xã có 7 chiếc giếng làng nhưng giờ chỉ còn một chiếc duy nhất. Giếng làng Ngọ Xá đó là di sản quý để lại cho muôn đời con cháu nên với chúng tôi, việc bảo tồn, gìn giữ là điều rất cần thiết".

Về đất Hà Trung, nơi đây vẫn còn lưu giữ được nhiều giếng cổ ở triều đại nhà Hồ, trong đó có giếng đầu rồng ở Hà Lĩnh, giếng vuông ở xã Hà Đông... Cả 2 chiếc giếng này hiện vẫn được bà con sử dụng. Đến bây giờ, dù đã ở tuổi 94 nhưng ông Nguyễn Văn Minh ở làng Tiên Hòa, xã Hà Lĩnh vẫn làm những công việc mà hàng chục năm qua ông đã làm đó là ai làm bẩn giếng đầu rồng ông lại nhắc nhở. Cách đây hơn 70 năm ông Minh đã xin phép xã, xin phép làng để xây một cái trụ ở giữa hai đầu rồng. Ông nói: "Để vào giếng mà đi qua hai đầu rồng này thì không còn sự tôn nghiêm nên từ ngày tôi xây đến giờ không có ai đi qua được". Còn bà Lê Thị Thứ (90 tuổi), vợ ông Minh nhớ lại: "Tôi về làm dâu làng Tiên Hòa đã 70 năm. Ngày đó tôi vẫn theo người làng ra giếng múc nước về ăn. Giờ giếng làng vẫn trong, vẫn sạch, vẫn đông người,  nhưng vì tuổi cao sức yếu nên không ra giếng lấy nước được nữa".

 Giếng đầu rồng làng Tiên Hòa, xã Hà Lĩnh (Hà Trung).jpg

Giếng đầu rồng làng Tiên Hòa, xã Hà Lĩnh (Hà Trung).

Ngoài giếng đầu rồng thì ở làng Tiên Hòa còn có giếng đình cũng đã hàng trăm năm và những chiếc giếng này vẫn được người dân hoặc lắp ống kéo nước từ giếng về để sinh hoạt hoặc lấy nước trực tiếp tại giếng. Trưởng làng Tiên Hòa, ông Hà Văn Tân cho biết: "Người dân trong làng vẫn gắn bó với chiếc giếng làng, đó là nét văn hóa làng, không thể dễ dàng bỏ đi được. Tuy nhiên, không ai được tắm ở giếng và phải luôn giữ sạch sẽ ở trong lòng giếng cũng như khuôn viên của giếng"...

Giữ được giếng làng để nhân lên niềm tự hào nhưng cũng có những giếng làng đã bị lấp đi hoặc phá bỏ. Giếng làng chỉ còn là hoài niệm, tiếc nuối...

Còn đâu giếng làng

Khi nhắc đến giếng Chùa của làng Bèo trước đây, ông Mai Thanh Nhàn, 85 tuổi, nguyên Bí thư Đảng ủy xã Thiệu Thành  (Thiệu Hóa) bỗng thở dài lặng lẽ. Tiếng thở dài của ông như chất chứa bao điều, có buồn, có nhớ bởi giếng làng Chùa, đấy là tuổi thơ của ông và biết bao người con ở làng Bèo này...

Cho đến giờ trong ông vẫn còn vẹn nguyên ký ức về chiếc giếng đất của làng mình. Giếng có đường kính 4m, sâu 6m và các bậc thang xuống giếng được kè đá. Giếng ở bên cạnh ngôi chùa Gấm. Gần giếng có 1 cây cáo, 1 cây sộp, 1 cây si. Giếng làng Chùa không bao giờ cạn nước. Cả làng Bèo cùng ăn nước giếng làng Chùa. Ông Nhàn ngậm ngùi: "Giếng làng tôi rất trong và mát. Điều kiêng kỵ nhất của làng đó là không được ai tắm rửa ở giếng. Giếng làng tôi rất thiêng, chùa làng tôi cũng vậy. Trước đây, ai đi qua chùa cũng phải cúi đầu. Kỳ lạ là ở xung quanh khu vực của chùa và giếng, đêm nào cũng xuất hiện 2 con vịt, 1 què, 1 lành nhưng chưa bao giờ có ai bắt được. Tôi tái ngũ năm 1965, cuối năm 1970 tôi về thì giếng cũng mất, chùa cũng không còn. Nếu bây giờ được khôi phục lại thì cảnh ở đấy đẹp lắm...”

Trở về xã Tế Lợi (Nông Cống), nơi đây đã từng có một chiếc giếng làng với tên gọi: giếng làng Côn Cương. Tương truyền, giếng có từ thời vua Lê Lợi. Dưới đáy giếng có một tấm hoành lim dài khoảng 2m. Xung quanh bờ giếng được làm bằng đất. Trước đây để thau giếng phải dùng đến 4 chiếc gầu dai, tát cả ngày cả đêm không cạn, nước cứ bồng lên chỉ toàn than và lá. Cũng gần lối đi xuống giếng còn có một tảng đá to tròn như cái nia, tảng đá này được làm bàn giặt để mọi người chà quần áo lên đấy. Nước giếng làng Côn Cương trong và ngọt, ai đi qua cũng xuống để vục uống trực tiếp.

Lục lại ký ức về chiếc giếng làng, nhiều người làng Côn Cương đều tái hiện bằng những hình ảnh giống nhau, không bỏ qua một chi tiết nào. Điều này cho thấy, giếng làng đối với họ như một “báu vật” thiêng liêng, không dễ gì quên được. Để minh chứng cho điều đã nói, ông Trần Văn Hiệp, 81 tuổi còn lấy cả giấy và bút để vẽ lại, trong đó ở trước giếng làng Côn Cương có một cây đa to, gần giếng có một cái nghè và cái đình. Ông Hiệp nhớ lại: “Thời chiến tranh, làng tôi có làm một cái chòi ở trên cây đa để gác phòng không, giặc Pháp đến là đánh kẻng báo động. Tôi còn nhớ, cứ 3 giờ sáng mồng một, người trong làng lại ra giếng lấy nước, ai cũng coi đó là lộc may mắn cho gia đình. Lấy được nước giếng làng vào giờ ấy mới thấy yên tâm”.

Khoảng những năm 80 giếng làng Côn Cương không còn vì quy hoạch dân cư. Ông Đỗ Khắc Minh - Chủ tịch UBND xã Tế Lợi cho biết: "Nguyện vọng của các hộ dân ở làng Côn Cương (bây giờ là thôn Côn Cương 1 - PV) muốn khôi phục lại giếng và đình. Tâm nguyện của nhiều người con xa quê cũng có mong nuốn như vậy vì họ tâm niệm giếng làng như long mạch của làng, không thể lấp long mạch được. Xã cũng đã có họp thôn, mời các cụ cao niên để nhờ các cụ định hình đình làng, giếng làng nằm ở đâu. Hiện xã cũng đã có quy hoạch tổng thể để trong thời gian tới sẽ tiến hành khôi phục giếng và đình làng".

Ký ức về giếng làng, ở đó có niềm vui và có cả những nỗi buồn nhưng dù giếng còn hay đã mất thì cái duy nhất còn lưu lại vẫn chính là sự thiêng liêng, trân trọng giá trị văn hóa làng như họa sĩ Lê Thiết Cương đã từng nói: “Giếng là nơi sâu nhất của làng... Sâu nhất, thấp nhất cũng có nghĩa là nơi chứa đựng được nhiều nhất. Cho nên lòng giếng cũng là lòng làng, lòng người. Bất luận thế nào nếu nặng lòng quá với những gì đã qua, nếu cứ chứa chất mãi cho dù hay dở làm nó đầy thêm thì sống tiếp sao được?”.

Hoàng Việt Anh

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1