GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Đề đốc Lê Điếm với phong trào chống Pháp cuối thế kỷ thứ XIX

Đăng lúc: 20/03/2019 10:00 (GMT+7)

- Lê Điếm sinh năm 1850 tại làng Phú Thịnh, xã Vĩnh Thịnh, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Sau đó gia đình chuyển về làng Đông Biện, nay là làng Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa. Ông là đề đốc giữ thành Nam Định có tinh thần yêu nước chống Pháp xâm lược cuối kỷ thứ XIX.

 Lăng mộ Đề đốc Lê Điếm ở làng Bồng Trung xã Vĩnh Tân huyện Vĩnh Lộc).jpg

Lăng mộ Đề đốc Lê Điếm làng Bồng Trung, xã Vĩnh Tân.

Sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo nên Lê Điếm không được đi học, mà phải đi ở cho gia đình phú hộ trong làng nhưng ông có sức khỏe phi thường. Hàng ngày ông phải ra sông Mã gánh nước trên quãng đường dài gần một cây số. Thời đó người dân gánh nước bằng nồi đất, nhưng ông đã dùng đôi chum gánh nước nặng gấp 4 lần họ mà vẫn chạy thoan thoắt. Ban ngày đi làm thuê, đêm đến ông cùng trai tráng trong làng say mê luyện tập các bài đao, kiếm côn, quyền,... ở trường luyện võ của làng. Tương truyền để rèn luyện võ nghệ ông thường xuyên tay xách một cối đá nặng khoảng 60 - 70kg chạy quanh bãi tập nhiều vòng trong tiếng hò reo cổ vũ của đám trai tráng trong làng.

Là dân ngụ cư, nhà lại nghèo nên ông thường bị bọn hào lý ức hiếp, nhưng vẫn chịu nhẫn nhục. Dù say mê với nghề võ, sức khỏe hơn người nhưng ông sống hiếu thuận với gia đình, bà con lối xóm và không ỷ thế gây gổ đánh nhau với bạn bè cùng lứa.

Sinh ra và lớn lên trong điều kiện đất nước loạn lạc, triều đình nhà Nguyễn nhu nhược, lần lượt cắt đất cho Pháp. Nạn cờ đen, cờ vàng quấy rối miền biên giới phía Bắc. Để đối phó với tình hình trên, triều đình nhà Nguyễn đã phải tổ chức bắt phu, bắt lính. Các làng xã Việt Nam tùy theo số dân phải điều động trai tráng xung lính theo con số quy định. Bọn nhà giàu có tiền của lo lót chạy chọt để con cháu được miễn trừ. Còn nhà dân nghèo đành để con vào lính. Lê Điếm cũng không tránh khỏi số phận đó.

Khi ông vào lính được phân vào đội “Hỏa đầu quân” trông coi việc ăn uống. Vốn có sức khỏe ông làm việc tích cực nên được cấp chỉ huy và đồng đội yêu mến. Một sớm trên đường đi tiếp tế lương thực và thực phẩm cho quân đội đang dẹp giặc “Cờ đen” ông thấy quân của triều đình đang bị giặc truy đuổi rất gấp. Trong tay không một tấc sắt, ông liền nhổ tre ven đường tả xung hữu đột, giáng cả cây tre xuống đầu giặc khiến nhiều tên ngã ngựa chết tươi, còn lại bạt vía kinh hồn tháo chạy.

Kết quả không những ông đã cứu thua cho lính triều đình mà còn thu về được 50 con ngựa chiến của giặc. Từ đó ông được cấp chỉ huy khen thưởng và trọng dụng, sau đó được tuyển vào trường võ bị của quân đội. Được trở lại nghề võ, ông không quản nắng mưa say sưa tập luyện và trở thành võ sinh xuất sắc. Ông tham gia kỳ thi hương rồi sau đó thi Hội (võ) năm Đinh Mão - năm Tự Đức thứ 20 (1867) và đậu Phó bảng.

Sau khi đậu Phó bảng, ông trở về làng vinh quy bái tổ. Sau đó ông được triều đình điều đi Quảng Bình làm chức xuất đội. Thời bấy giờ ở biên giới phía Bắc bị tàn quân Thái Bình Thiên Quốc tràn sang cướp phá, nhũng nhiễu dân lành. Ông được điều từ Quảng Bình ra theo quân Bắc Ninh dẹp giặc. Ông được phục vụ dưới quyền ông Ích Khiêm, một vị quan lớn của triều Nguyễn dưới triều vua Tự Đức. Trong thời gian dưới trướng của ông Ích Khiêm ông đã học hỏi thêm được nhiều binh pháp. Một thời gian sau Lê Điếm được triều đình Huế đề bạt Đề đốc hộ thành (Chỉ huy trưởng quân đội tỉnh Nam Định).

Dù trách nhiệm lớn, chức tước cao nhưng tình cảm của ông với quê hương vẫn rất gắn bó. Mỗi khi dân làng Phú Thịnh (Vĩnh Thịnh bây giờ) và bà con làng Đông Biện (làng Bồng Trung- Vĩnh Tân ngày nay) có người gặp khó khăn, lỡ đường, ông đều bố trí tiếp đón ân cần, chu đáo , hỗ trợ tiền ăn đi đường. Vì vậy dân làng rất kính trọng ông.

Một lần được cử đi Huế chúc thọ vua Tự Đức, trong buổi tiệc, nghe giọng nói, nhân cách, cử chỉ của ông nhà vua rất thích và mến ông. Sau đó vua Tự Đức đã phán truyền “Điếm Bất ly Nam” có nghĩa là động viên ông giữ vững chắc thành Nam Định.

Năm 1882 thực dân Pháp xâm lược xứ Bắc Kỳ lần thứ hai. Sau khi đánh chiếm Hà Nội, chúng kéo quân đánh chiếm thành Nam Định. Lúc này tương quan lực lượng giữa ta và địch không cân sức. Giặc Pháp đông, trang bị vũ khí hiện đại, quân ta vũ khí ít lại thô sơ, cũ kỹ. Chính Hen-Ry-Viere sĩ quan Pháp đã hạ thành Hà Nội trực tiếp chỉ huy chiếm thành Nam Định. Đại tá hải quân Hen-Ry-Viere sử dụng mười tàu máy, một số thuyền và mấy trăm binh lính từ sông Hồng theo sông đào tiến vào tấn công thành. Ngày 26/3/1883, Pháp tập trung hỏa lực tấn công thành, đổ bộ chiếm các doanh trại của ta. Tên Hen-Ry-Viere đã gửi tối hậu thư cho Tổng đốc Vũ Trọng Bình yêu cầu phải dâng thành, đầu hàng. Quân ta vẫn kiên cường bám trụ cố thủ không trả lời. Ngày 27/3/1883 Pháp tiếp tục tập trung hỏa lực tấn công vào cửa Đông thành. Trước làn đạn thù nã như mưa, quân ta dưới sự chỉ huy của Lê Điếm vẫn xông lên chặn đường tiến công của giặc. Trận chiến ngày một diễn ra ác liệt, quân ta bị thương vong nhiều. Hoảng sợ trước tình hình chiến sự, Tổng đốc Vũ Trọng Bình bỏ chạy, Án sát Hồ Bá Ôn bị thương. Mặc dù thế Đề đốc Lê Điếm vẫn kiên cường bám trụ đốc quân chống trả quyết liệt, nhưng trước quân giặc hung hãn với vũ khí hiện đại, Lê Điếm đã bị thương và rút về Bình Lục (xóm Trạm, xã Cộng Hòa, huyện Vũ Bản, tỉnh Nam Định ngày nay).

Theo truyền ngôn, khi đến nơi, ông đánh ba hồi trống mời dân làng ra nói chuyện. Ông đau đớn thông báo tình hình chiến sự rồi xin dân làng nấu cho ông một nồi cháo trắng. Ăn xong ông nhờ dân đào huyệt cho mình, rồi lót ván nằm xuống nhờ dân lấp đất và cấy lúa lên mộ, khi đó vừa tròn 33 tuổi. Ông mất ngày 28/3/1883.

Nghe tin ông mất, dân làng khắp nơi thương tiếc. Ở quê hương, người dân đã làm lễ hội mùa xuân cho ông. Nhân dân Nam Định đã làm bia mộ cho ông và còn lập đền thờ. Ngày nay thành phố Nam Định có một con đường mang tên ông. Đền thờ Lê Điếm ở Nam Định cũng đã được xếp hạng Di tích Quốc gia.

Ông nghè Tiến sĩ Tống Duy Tân - Lãnh tụ của phong trào Cần Vương (1886 - 1892 ) là người đồng hương cảm phục tinh thần chiến đấu hy sinh anh dũng của Đề đốc Lê Điếm đã có câu đối viếng:

Dứ tặc bắt câu sinh Thái Nguyễn Cao Hoàng sơ chi

Kỳ danh nhi bất tử, Hùng sơn, Mã thủy nả gian.

Nghĩa là:

Cùng giặc không chung sống, nối chí Thái Nguyễn Cao Hoàng

Tên ông không mất, núi Hùng, sông Mã mãi lưu danh.

Hiện nay đền thờ ông ở làng Bồng Trung xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc, tỉnh Thanh Hóa còn lưu giữ 8 đạo sắc của triều đình truy tặng và gia phong cho ông.

Thi hài ông sau này được đưa về an táng ở quê. Cán bộ và nhân dân làng Bồng Trung bằng vốn xã hội hóa đã tôn tạo lại lăng mộ ông với tổng kinh phí gần 400 triệu đồng. Di tích lăng mộ và đền thờ ông đã được xếp hạng Di tích cấp tỉnh năm 2011. Ngôi mộ có kiến trúc theo kiểu cung đình tọa lạc trên diện tích 300m2 rất uy nghiêm và bề thế tại làng Bồng Trung, xã Vĩnh Tân, huyện Vĩnh Lộc.

Lê Văn Sự

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1