GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Dấu xưa thành cổ

Đăng lúc: 10/02/2019 16:00 (GMT+7)

- Trong chiều dài hàng ngàn năm mở nước, dựng xây và giữ gìn bờ cõi của dân tộc Việt Nam đã chứng kiến biết bao thành trì được dựng lên bằng mồ hôi, xương máu của cha ông. Những tòa thành gắn liền với các triều đại chính là dấu tích của lịch sử tồn vong, hưng thịnh. Với xứ Thanh địa linh nhân kiệt, “tam vua nhị chúa”, thì dấu tích hệ thống thành cổ theo dòng thời gian, lịch sử thật đáng tự hào.

Trong suốt gần 1.000 năm Bắc thuộc, vùng đất Thanh Hóa (Cửu Chân) với vị thế “cuối Bắc, đầu Nam” cũng không thoát khỏi những toan tính của kẻ xâm lược. Bởi vậy, chúng luôn thận trọng trong việc xây dựng hệ thống thành trì bảo vệ và đặt bộ máy cai trị tại đây. Có thể kể đến thành Tư Phố, lỵ sở của nhà Hán ở đất Cửu Chân (ngày nay thuộc khu vực làng Giàng, xã Thiệu Dương, TP Thanh Hóa); thành Đông Phố (Đồng Pho, xã Đông Hòa, Đông Sơn) của Lê Ngọc, thái thú quận Cửu Chân, nổi lên chống nhà Đường...

Và sau này, trong loạn 12 sứ quân, ở vùng đất Thanh Hóa còn có thành Bình Kiều của tướng quân Ngô Xương Xí. Ông là cháu nội của Ngô Quyền. Căn cứ trên những tài liệu khảo cổ, các sử gia cho rằng thành Bình Kiều hơn 1.000 năm trước của tướng quân Ngô Xương Xí nằm trên địa bàn huyện Triệu Sơn.

Thành Nhà Hồ: Khẳng định vị thế xứ Thanh

Thực tế cho thấy, trong suốt thời kỳ quốc gia phong kiến độc lập, vùng đất Thanh Hóa dù có địa thế chiến lược, hiểm trở song vẫn là một xứ xa kinh đô. Và chắc chắn có không ít dè dặt trong những quyết sách của triều đình trung ương ngoài kinh đô Thăng Long.  Chính vì vậy, việc Hồ Quý Ly lựa chọn Thanh Hóa làm nơi xây dựng Tây Đô với thành Nhà Hồ (Thành Tây Giai) được xem là một bước ngoặt lịch sử trong việc khẳng định vị thế của vùng đất Thanh Hóa.

 Thành Nhà Hồ.jpg

Thành Nhà Hồ là kinh đô của hai triều đại Trần - Hồ.

Sau thời kỳ hưng thịnh, vương triều Trần lung lay suy yếu. Đây chính là điều kiện lý tưởng để Nhập nội phụ chính Thái sư Hồ Quý Ly từng bước nắm quyền và trở thành nhân vật chính trị mới trong bộ máy nhà Trần. Bằng tài năng, mối quan hệ của mình, Hồ Quý Ly đã từng bước thâu tóm và xác lập quyền lực mà đỉnh điểm là việc ông cho đổi Thanh Hóa làm Thanh Đô trấn và xây dựng thành Tây Đô tại đây vào tháng Giêng năm Đinh Sửu (1397), công trình hoàn thành đã đưa xứ Thanh chính thức trở thành trung tâm chính trị của quốc gia Đại Việt - Đại Ngu, thay thế kinh đô Thăng Long.

Từ khi ra đời, trường tồn cho đến ngày nay, thành Nhà Hồ vẫn còn lưu truyền nhiều câu chuyện, giai thoại đầy thần bí. Một tòa thành đá kiên cố với quy mô lớn hiếm có ở Việt Nam được khởi dựng và hoàn thành chỉ trong khoảng thời gian 3 tháng. Để cho đến ngày hôm nay, tòa thành với hơn 600 năm lịch sử vẫn hiên ngang đứng vững, như thách thức thời gian mà hậu thế vẫn không thể lý giải được. Và điều đặc biệt, khi những cung điện, đền đài bên trong thành đã bị phá vỡ hoàn toàn thì tòa thành đá bên ngoài vẫn sừng sững hiên ngang, mặc thời gian, bão giông, đạn bom. Phải chăng, thành Nhà Hồ tồn tại còn bởi sứ mệnh lịch sử của chính nó.

Người ta nhắc đến thành Nhà Hồ với tư cách kinh đô của nước Đại Ngu (niềm vui lớn) - niên hiệu của đất nước ta dưới thời Nhà Hồ. Điều đó là đúng song có lẽ là chưa đủ. Thành được khởi dựng và hoàn thành vào đầu năm 1397, tuy nhiên phải chính thức đến năm 1400 thì Hồ Quý Ly mới xác lập việc ra đời của triều đại nhà Hồ. Có nghĩa, trong thời gian từ 1397 - 1400 thì thành Nhà Hồ vẫn là kinh đô của nước Đại Việt do vua Trần đứng đầu. Và như vậy, thành nhà Hồ lẽ dĩ nhiên chính là kinh đô của hai triều đại Trần - Hồ nối tiếp. Như vậy, lịch sử của Tây Đô nói chung và thành Nhà Hồ nói riêng còn là lịch sử của một cuộc rời đô trong những biến động của dân tộc.

TS Lê Ngọc Tạo, nguyên Trưởng Ban Sử, Chủ tịch Hội KHLS Thanh Hóa cho biết: “Khi Hồ Quý Ly cho rời đô từ Thăng Long (Hà Nội) về Tây Đô (Thanh Hóa) còn vì những tính toán về mặt phòng ngự quân sự. Bởi khi ấy nhà Minh đang lăm le xâm lược. Vùng đất Thanh Hóa có vị thế hiểm trở, dựa vào thế núi sông, thuận lợi cho việc phòng thủ, chống đỡ với kẻ thù. Chính vì vậy, thành Nhà Hồ mang đầy đủ yếu tố của một kinh đô hành chính, phòng thủ quân sự”.

Hậu thế có thể nhìn nhận khác nhau trong việc đánh giá công - tội của Hồ Quý Ly cũng như vương triều Hồ trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Tuy nhiên, chỉ riêng việc để lại cho đời công trình đá thành Nhà Hồ vĩ đại có lẽ cũng để ta hiểu phần nào khát vọng của người con họ Hồ. Nếu không khát vọng về việc xây dựng một triều đại mới hùng mạnh đủ sức đương đầu với mọi kẻ thù thì liệu thành Nhà Hồ có thể được dựng lên như vậy? Lịch sử luôn có những lý lẽ cho sự thành, bại, thịnh, suy của mỗi vương triều. Người ta nói Hồ Quý Ly thất bại vì ông không được lòng dân. Tuy nhiên, vương triều “Đại Ngu” dẫu chỉ tồn tại vỏn vẹn 7 năm nhưng là khát vọng đổi mới, cải cách, mong muốn xây dựng một đất nước tươi đẹp, hùng mạnh. Đáng tiếc, những ý tưởng ấy cuối cùng đành phải dở dang. Và đâu chỉ người dân điêu đứng dưới họa xâm lược mà còn đó cả mối hận trong lòng kẻ sĩ.

Thành Hoàng Nghiêu: “Liên minh” sức mạnh con người và tạo hóa

Sau thất bại của nhà Hồ, đất nước ta rơi vào ách xâm lược của nhà Minh. Lúc này, ở vùng đất Vạn Lộc (thuộc Đông Sơn ngày nay) xứ Thanh có chàng trai Nguyễn Chích đã tụ tập binh sĩ, xây lũy, lập trại “khiến cho một cõi Đông Sơn giặc không dám đến cướp phá”. Từ Vạn Lộc, Nguyễn Chích đã quyết định mở rộng căn cứ ra khu vực núi Hoàng, núi Nghiêu (ngày nay thuộc địa phận ba huyện Đông Sơn, Nông Cống, Triệu Sơn) để nghĩa quân luyện tập. Thế núi Hoàng - Nghiêu cùng chạy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, hợp lại giống như một hình thang lớn, tạo nên một tòa thành thiên nhiên to lớn, vững chắc, ở giữa là nhánh sông Hoàng, dưới con mắt của kẻ có tài thao lược thì đây chính là nơi giấu quân an toàn, lý tưởng. Địa hình núi cao hiểm trở gây khó khăn cho kẻ thù trong mưu đồ tập kích, tấn công bất ngờ. Thế núi lại giống như bức tường thành bao quanh, che chở. Lợi dụng núi cao, sông sâu, Nguyễn Chích đã huy động lực lượng đào hào, đắp lũy nối liền những chỗ thế núi đứt đoạn, tạo nên khu trung tâm rộng lớn phía bên trong làm căn cứ chống giặc lợi hại mà người đương thời vẫn thường gọi đó là căn cứ thành Hoàng Nghiêu - Nguyễn Chích (Lê Chích). Với căn cứ này đương nhiên có thể mượn thế núi làm thành, sông sâu làm hào, tuy không bằng phẳng nhưng ra vào khó lường. Hễ giặc Minh đến thì quân Nguyễn Chích giữ chỗ hiểm mà cố thủ, giặc đi thì đón đánh bất ngờ khiến kẻ thù bao phen kinh hãi. Thanh thế nghĩa quân từ đây lan rộng khắp một vùng Nam Thanh - Bắc Nghệ, tạo nên một phong trào đấu tranh rộng khắp.

 Di tích núi Hoàng - Nghiêu từng là căn cứ quân sự lợi hại của nghĩa quân Nguyễn Chích 600 năm về trước.jpg

Di tích núi Hoàng - Nghiêu từng là căn cứ quân sự lợi hại của nghĩa quân Nguyễn Chích 600 năm về trước.

Từ phong trào đấu tranh của nghĩa quân Nguyễn Chích tại căn cứ thành Hoàng Nghiêu, nơi núi rừng Lam Sơn, thủ lĩnh Lê Lợi đã “ngầm dụ” để chí lớn gặp nhau, hợp sức đánh giặc. Đến những năm 1420, vì để thống nhất ý chí, tập trung lực lượng, tiêu diệt kẻ thù nên tướng Nguyễn Chích đã rời căn cứ thành Hoàng Nghiêu, toàn bộ lực lượng gia nhập nghĩa quân Lam Sơn. Dưới sự chỉ huy của Bình Định Vương Lê Lợi, tạo thế và lực để khởi nghĩa Lam Sơn từng bước vượt qua khó khăn, đi đến thắng lợi cuối cùng, kết thúc 20 năm đau khổ dưới ách xâm lược của giặc Minh đối với dân tộc Việt Nam.

Nhắc đến thắng lợi của khởi nghĩa Lam Sơn đâu thể quên đi những đóng góp của nghĩa quân Nguyễn Chích với căn cứ thành Hoàng Nghiêu. Ở vùng đất ấy giờ đây, vẫn là dãy núi Hoàng - Nghiêu nối tiếp từ quá khứ đến hiện tại với những: núi Bạc, hang Hồ, hang Niệng, hang Cá, hang Bạc... và không gian rộng lớn của Thung Chùa - tương truyền là vùng lõi, nơi luyện tập của nghĩa quân Nguyễn Chích. Còn tường thành đắp đất cao vút ngày nào giờ cũng chỉ còn vết tích với những lũy đất cao.

Anh Trần Minh Khang, cán bộ Văn hóa xã Đông Nam dẫn chúng tôi mục sở thị những đoạn tường thành còn lại và khẳng định: “Trên địa bàn xã Đông Nam hiện còn dấu vết của ba đoạn tường thành Nguyễn Chích”.

Vạn Lại - Yên Trường: Kinh đô kháng chiến thời Lê Trung Hưng

Vùng đất Thanh Hóa dường như sinh ra là để trở thành nơi tìm về “thủ thế” của các triều đại mỗi lúc nguy nan. Và lịch sử cũng đã khẳng định cho nhận định ấy.

Qua những năm thái bình, thịnh trị, quốc gia dân tộc phát triển rực rỡ, triều đại nhà Lê cũng không tránh khỏi dấu hiệu suy yếu. Đánh dấu bằng biến loạn chính trị năm 1527 khi Mạc Đăng Dung cướp ngôi nhà Lê, xưng hoàng đế. Sau 100 năm, vùng đất Thanh Hóa lại trở thành chỗ dựa căn bản để quần thần giương cao ngọn cờ “phù Lê diệt Mạc”. Đánh dấu bằng sự trở về của các cựu thần nhà Lê để gây dựng lực lượng, bắt đầu công cuộc Trung Hưng nhà Lê - thời kỳ Lê Trung Hưng.

 Voi đá còn sót lại ở Vạn Lại.jpg

Voi đá còn sót lại ở Vạn Lại.

Theo đó, năm 1546, Thái sư Trịnh Kiểm với quan điểm “lập quốc tất phải căn cứ vào nơi hiểm trở, sách Vạn Lại núi đứng sững, nước uốn quanh, thực đáng gọi là hình thế đẹp. Đó là do trời đất xếp đặt để làm chỗ dấy nghiệp đế vương” nên đã quyết định chọn sách Vạn Lại cách Lam Kinh khoảng 7km (nay là xã Xuân Châu, huyện Thọ Xuân) để xây dựng hành cung, lập kinh đô, khôi phục nhà Lê. Bắt đầu bằng việc đào hào, đắp lũy, xây thành trì, hành cung để nhà vua đến ở. Đến năm 1553, kinh đô từ Vạn Lại được rời về Yên Trường (nay là xã Thọ Lập, huyện Thọ Xuân). Từ đó cho đến năm 1593, Yên Trường là nơi vua ở cho đến khi trở về kinh đô Thăng Long. Tuy nhiên, kể cả những năm về sau, mỗi khi gặp biến động, các triều vua Lê lại tìm về đây lánh nạn. Và trong những năm tháng ấy, Vạn Lại - Yên Trường đã thực trở thành kinh đô kháng chiến của nhà Lê Trung Hưng. Kinh đô Vạn Lại - Yên Trường được kiến thiết với đầy đủ yếu tố: triều nghi, trường thi, đàn tế, chợ búa, phố xá... Thông qua các kỳ thi tổ chức tại kinh đô Vạn Lại - Yên Trường thì vua Lê đã tìm ra không ít nhân tài giúp nước: Trạng Bùng Phùng Khắc Hoan; Lương Hữu Khánh... Và ngay cả khi không còn là kinh đô thì Vạn Lại - Yên Trường vẫn được họ Trịnh giữ lại trưng dụng làm nơi lưu trữ kho tàng cho những dự tính riêng.

Đến thời điểm hiện tai, dấu vết kinh thành Vạn Lại - Yên Trường còn lại có phần mờ nhạt. Song người ta không thể phủ nhận đóng góp của một kinh đô kháng chiến trong một giai đoạn đầy biến động của lịch sử dân tộc. Và đương nhiên, lịch sử một lần nữa phải thừa nhận vị thế trọng yếu của xứ Thanh đối với vương triều nhà Lê nói riêng và lịch sử đất nước nói chung.

Thành Thọ Hạc: Dấu tích kiến trúc Vô Băng

Đánh bại nhà Tây Sơn, chọn Huế làm kinh đô, vua Gia Long - Nguyễn Ánh cũng không quên những tính toán cho vùng đất cố hương: Thanh Hóa. Dân gian cho rằng, việc rời trấn lỵ Thanh Hóa từ làng Dương Xá (Đông Sơn) về làng Thọ Hạc để thành lập trấn lỵ mới gắn liền với những mộng báo của thần Bạch Hạc. Và cái tên Thọ Hạc (nơi chim hạc đậu) cũng xuất phát từ giấc mộng thần minh đó.

Năm 1804, vua Gia Long cho xây dựng thành Thọ Hạc theo kiến trúc Vô Băng (Vauban) của Pháp với công năng quân sự, phòng ngự linh hoạt, tránh được bị động. Ở trong thành có thể quan sát được kẻ địch từ xa, công phá từ nhiều hướng. Kiến trúc thành theo kiểu bát giác với các cửa Tả, cửa Hữu, cửa Hậu và cửa Nam, không có cửa Tiền vì quan niệm “Thanh vô tiền, Nghệ vô hậu”.

Tuy vậy, ngoài chức năng quân sự thì thành Thọ Hạc vẫn là một trung tâm chính trị, kinh tế với các công trình phục vụ cho bộ máy hành chính: Công đường; Bố chính, Án sát; Lãnh binh; Ty phiên... và hành cung để làm nơi nghỉ ngơi cho vua mỗi lần vi hành tuần du, thăm quê. Thành Thọ Hạc cũng kéo theo sự thay da đổi thịt của vùng đất này. Trong đó phải kể đến sự ra đời của những ngành nghề thủ công độc đáo, phát triển cực thịnh, phục vụ đời sống nhân dân... Lịch sử của Hạc Thành đến ngày hôm nay cũng chính là lịch sử hình thành, phát triển của TP Thanh Hóa.

 Hạc Thành chụp từ trên cao thời Pháp thuộc. (Ảnh tư liệu).jpg

Hạc Thành chụp từ trên cao thời Pháp thuộc. (Ảnh tư liệu)

 Dấu tích Hạc Thành ngày nay (Ảnh chụp từ Google Maps).jpg

Dấu tích Hạc Thành ngày nay (Ảnh chụp từ Google Maps).

Thời gian khiến cho những dấu vết thành cổ Thọ Hạc bị vùi lấp. Nhưng lịch sử cũng rất công bằng khi để lại cho TP Thanh Hóa ngày hôm nay những địa danh ghi dấu. Đó là những Lò Chum; Hàng Hương; Hàng Than; Quán Giò... tất cả hoạt động sản xuất có thể không còn. Nhưng sức gợi về những giá trị lịch sử thì vẫn vẹn nguyên.

Theo phân loại của các sử gia, trong lịch sử có ba loại thành cổ: Thành quân sự (phòng ngự); thành quân sự và hành chính; kinh thành. Thanh Hóa tự hào khi chứng kiến sự tồn tại của cả ba loại thành kể trên. Đến bây giờ, những thành cổ có thể còn, có thể đã mất nhưng vết dấu và sự tích thành cổ vẫn còn đó, âm thầm hát bài ca bất tử về những hào hùng, đau thương, vất vả trong quá khứ của bậc tiên tổ. Để nhắc nhớ hậu thế, luôn tự hào và khát vọng sống xứng đáng với danh đất và người xứ Thanh.

Thu Trang

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1