GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Chùa Linh Xứng trong thư tịch cổ và sự phát triển của các ngôi chùa thời Lý trên đất Thanh Hóa

Đăng lúc: 30/12/2018 10:00 (GMT+7)

- Đạo Phật truyền vào Việt Nam khoảng đầu Công nguyên do các nhà sư Ấn Độ trực tiếp đưa vào Vùng Dâu (Bắc Ninh) đầu tiên. Đến thời Lý, phật giáo phát triển mạnh mẽ và trở thành quốc giáo, vì thế mà việc xây dựng chùa chiền ở thời kỳ này được diễn ra ở hầu khắp các địa bàn từ Thanh - Nghệ - Tĩnh trở ra; nhân dân được giáo hóa khắp nơi. Vì vậy, "Đời Lý có thể gọi là đời thuần từ nhất trong lịch sử nước ta. Đó chính là nhờ ảnh hưởng của đạo Phật".

Lịch sử chế độ phong kiến Việt Nam, ở thời Lý, đạo Phật có vai trò vô cùng quan trọng trong việc đóng góp tích cực vào việc dựng nước. Trong đó vai trò của các thiền sư như Khuông Việt đại sư Ngô Chân Lưu, Thiền sư Pháp Thuận, Thiền sư Vạn Hạnh chiếm một vị trí đặc biệt trong việc tạo dựng một nhà nước quân chủ lấy Phật giáo làm rường cột; hơn thế, ý thức xây dựng một nền văn hóa Việt Nam độc lập của các thiền sư rất rõ rệt. Mặt khác, các vua đời Lý cũng có tính cách tâm linh hơn và trí thức hơn. Họ đều là những người có học về Phật giáo và thường vời các thiền sư đến để đàm luận về giáo lý. Đặc biệt, trong số này có nhiều người do các thiền sư đào tạo. Vì thế, mà họ đã dựng nên cả một triều đại thuần từ, lấy đức từ bi làm căn bản cho chính trị.

Nhìn lại những thành tựu dựng nước ở thời kỳ này cho thấy những sáng tác văn học về chủ đề Phật giáo, đến những công trình kiến trúc chùa tháp hoặc những dấu tích còn lại đến ngày nay, cơ bản đã làm nên một phong cách thời đại có những đặc trưng riêng, mang đậm phong cách dân tộc.

1. Với khả năng đầy sức sống và huyền thoại của đạo Phật và trên cơ sở của một tiến trình phát triển chung của Phật giáo thời Lý, cũng như những dấu tích của những công trình Phật giáo Châu Ái còn lại đến ngày nay, chúng ta có dịp nhìn lại một lần nữa sự phát triển của nó thông qua những nguồn sử liệu cũ và những dấu tích ít ỏi trên thực địa.

Về mặt lịch sử, dưới thời Lý, Kinh đô được dời từ Hoa Lư ra Thăng Long, Thanh Hóa trở thành miền đất xa trung tâm cả nước. Do vị trí, vai trò của miền đất "phên dậu phía nam" đất nước có một tầm quan trọng đặc biệt, cho nên trước hết để củng cố nhà nước phong kiến quân chủ, thực hiện quản lý quốc gia có hiệu quả, vua Lý đã cử Thái úy Lý Thường Kiệt, một vị quan đại thần của triều đình vào coi giữ vùng đất Châu Ái từ năm 1081. Để tăng thêm quyền lực cũng như phát triển kinh tế nông nghiệp, ngoài việc phong cấp rất lớn cho Lý Thường Kiệt về mọi mặt, vào năm 1082, nhà vua còn đặc biệt ban thêm cho ông một quận làm phong ấp. Đặc biệt ở thời kỳ này, nhà nước chính quyền Trung ương lấy đạo Phật làm "rường cột" cho nên Châu Ái cũng sớm trở thành vùng đất mà đạo Phật có ảnh hưởng mạnh mẽ trong đời sống chính trị cũng như sinh hoạt cộng đồng. Những ngôi chùa được xây dựng ở Châu Ái thời kỳ này hầu hết đều do nhà vua hoặc quan lại ở triều đình chủ trương xây dựng, vì thế mà nó trở thành những đại danh lam.

 Một hoạt động từ thiện tại chùa Linh Xứng.jpg

Một hoạt động từ thiện tại chùa Linh Xứng.

Chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn, xã Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc, nay là xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa được coi là ngôi chùa được xây dựng sớm nhất ở thời Lý trên đất Thanh Hóa. Chùa do Thái úy Lý Thường Kiệt chủ trương tiến hành xây dựng. Khi ông mới vào vùng đất Châu Ái nhậm chức Tổng trấn được ba năm tức là vào năm 1085. Như vậy, đã qua trên dặm dài ngàn năm, chùa Linh Xứng hiện chỉ còn là phế tích. Ngày nay chúng ta chỉ còn biết được ngôi chùa này chủ yếu là dựa vào nguồn tài liệu thư tịch cổ và bài văn bia do Thích Pháp Bảo soạn. Cuộc khai quật khảo cổ học chùa Linh Xứng năm 2009, với một số di vật ít ỏi phát hiện được, cùng với những dấu vết nền móng được xuất lộ cũng chỉ phần nào cho phép chúng ta đoán định được một mặt bằng chùa gần như hình vuông.

Tài liệu sử cũ cho biết: Ngay từ khi mới vào trấn trị vùng đất Châu Ái, Thái úy Lý Thường Kiệt đã chọn làng Ngọ Xá, huyện Vĩnh Lộc (nay là xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung) để xây dựng Lương Mục Đường làm nơi ở của mình.

Lúc này, dù bận nhiều công việc chính sự trong việc cai quản vùng đất mới nhưng Lý Thường Kiệt lòng luôn hướng về đạo Phật. Ông lo sự giáo dục thực hành đạo từ bi trong dân chúng để làm sao cho đời sống xã hội trở thành sự thuần từ và đẹp đẽ. Đạo đức và từ bi đã không làm cho dân nghèo nước yếu, trái lại những yếu tố này đã tạo nên sự phú cường của một dân tộc. Lý Thường Kiệt đã cùng với Trưởng lão Sùng Tín từ Kinh đô vào đã ngược dòng lên cửa Phấn Đại (tức cửa sông Mã), dừng thuyền ở núi Long Tỵ (núi Hàm Rồng), sau đó dời thuyền về phía tây, qua dòng sông Nam Thạc (tức sông Lèn) đến ấp Đại Lý (nay thuộc huyện Hà Trung), nhìn thấy núi Ngưỡng Sơn bên bờ sông, có nhiều cây cối sầm uất tạo nên một cảnh trí “Bóng lam ngùn ngụt, sắc thúy đậm đà, quanh quất làng xa, bao quanh điện Bắc”. Dưới chân của dãy núi này là dòng Đại Lại giang xinh đẹp (là một nhánh của hạ lưu sông Mã), được bắt đầu từ Ngã Ba Bông - nơi “ngũ huyện kê” (con gà gáy năm huyện cùng nghe), chảy qua địa phận đền Bông, đền Hàn (nay thuộc xã Hà Sơn), núi Ngưỡng Sơn (Hà Ngọc), qua bến Đại Lý thì có vụng Chiếu Bạch chảy vào; chuyển sang phía đông thì bên tả có huyện Nga Sơn, bên hữu có huyện Hậu Lộc, nước chảy vòng quanh ven núi rồi đổ ra cửa biển Bạch Câu. Dòng sông này, trong suốt chiều dài lịch sử vừa là tuyến đường thủy quan trọng của miền đất xứ Thanh rộng lớn nối với biển cả bao la để thuyền buôn tấp nập ra vào, vừa là nơi cung cấp và tiêu thoát nước cho nhiều vùng đất của các huyện Hà Trung, Hậu Lộc, Nga Sơn và cả Hoằng Hóa nữa. Nếu không phải là mùa mưa lũ thì dòng Đại Lại giang như một dải lụa mềm đi qua những xóm làng trù phú để tạo nên những cảnh sắc hiền hòa và thơ mộng. Lý Thường Kiệt cho rằng: Cái mà kẻ trí người nhân ưa thích là núi, là sông; cái mà thế đại lưu truyền là danh, là đạo. Nếu mở núi mà làm cho “đạo” và “danh” rạng rỡ thì không đáng quý hay sao? “Thế là phát cỏ rậm, bạt đá to, thầy bói nhắm phương, thợ hay dâng kiểu, quan thuộc góp tiền, sĩ dân đổ tới. Kém sức thì bào thì gọt; sành nghề thì dựng thì xây. Chùa Phật thênh thang ở giữa; phòng chay rộng rãi hai bên. Trang nghiêm chính giữa thì Ngũ Trí Như Lai sắc vàng rực rỡ, ngồi trên tòa sen trồi lên mặt nước. Quanh tường thì thêu vẽ dung nghi đẹp đẽ của cực quả (Cực quả: thuật ngữ đạo Phật, chính sự giác ngộ tốt), mười phương cùng với mọi hình tướng biến hóa, muôn hình vạn tượng không kể xiết. Phía sau xây ngôi tháp báu gọi là Tháp Chiêu Ân, chín tầng chót vót, giăng mắc rèm the, cửa mở bốn bên, bao quanh con tiện. Gió rung chuông bạc; hòa nhịp chim rừng. Tháp báu nắng soi; long lanh vàng diệp. Quanh thềm lan can, đầy sân hoa cỏ. Trước cửa chính, trong treo chuông vàng, một tiếng chày kinh; ngân vang khắp chốn. Thức tỉnh kẻ u mê; phá tan niềm hôn tục. Khuyên bảo việc lành; răn đe điều ác... Bên dòng nước dựng xây đình nhỏ, san sát thuyền bè qua lại, dừng chèo tạm nghỉ. Hoặc Hoàn Bang, Chân Lạp (Hoàn bang là nước Chiêm Thành; Chân Lạp nước phía nam Chiêm Thành) xa tới mà quỳ gối xem; hoặc nước lạ phương xa quy phục mà cúi đầu dập trán. Cái nhà nát của kẻ quê mùa hóa thành vương xá lớn” (Văn bia Chùa Linh Xứng trong Thơ văn Lý Trần, GS. Huệ Chi dịch).

Như vậy, công việc xây chùa Linh Xứng làm trong bốn năm từ năm 1085 đến năm 1089 thì xong. Sau đó Thái úy Lý Thường Kiệt đã vời Giác tính Hải Chiếu đại sư, tứ tử; Thích Pháp Bảo là người truyền pháp ở chùa Phúc Diên Tư Thánh quận Cửu Chân, trấn Thanh Hoa, kiêm coi việc giáo môn ở bản quận soạn bài văn bia chùa Linh Xứng vào năm 1126.

Trong văn bia, Thích Pháp Bảo đã lý giải công việc mình làm (xây chùa, dựng bia) rất có lý rằng: Bởi cái “một” (bản thể) bị phân thành “muôn” (hiện tượng) nên phải thâu tóm cái “muôn” (hiện tượng) để đưa về cái “một” (bản thể). Xây dựng chùa tháp, tạc tượng, khắc bia để biểu thị sự “thâu tóm” qua đó mà giác ngộ chúng sinh, đưa chúng sinh về với đức Phật, tức là hướng về cái gốc rễ “bản thể”, cái chân tâm.

Với tư tưởng chính thống của Phật giáo thời Lý, việc xây dựng chùa tháp, dù công trình kiến trúc có to lớn đến đâu cũng không phải là cứu cánh mà chỉ là phương tiện để tế độ chúng sinh, khác nào đóng thuyền, kết bè để chở đưa kẻ mê lầm, đau khổ, thoát bể trầm luân, tới bến bờ giác ngộ (thoát khổ). Thuyền bè càng lớn, càng chở đưa được nhiều người, chèo lái càng mạnh, càng nhanh chóng vượt qua bể khổ.

Phần cuối bài văn bia, Pháp Bảo viết: “Ôi! sinh thành và nuôi nấng ta, có ai bằng vua và cha, cho nên phải kính trọng; dẫn dắt và che chở ta, còn gì hơn là Phúc huệ, cho nên phải tin theo. Đem phúc to này, chúc vận lớn ấy. Nghiệp trời dằng dặc dài lâu; vận nước đời đời thịnh vương. Nhân duyên thêm mãi; phúc lợi càng tăng”. Đoạn văn này, Pháp Bảo đã cởi áo cà sa, mặc áo thâm. Nhà sư không suy tôn Phật mà đề cao vua và cha theo quan niệm đạo thường của nhà Nho. Khi miêu thuật buổi lễ khánh thành chùa Linh Xứng, Pháp Bảo tô đậm cảnh “bọn người mũ ni”, “kẻ sĩ áo thâm, như mây kéo tới”. Như vậy Phật - Nho cùng bắt tay thân thiện. Văn bia còn cho biết sự trụ trì chùa Ngưỡng Sơn Linh Xứng là Tín nữ Diệu Tính cháu gọi Thái úy Lý Thường Kiệt bằng cậu và chồng là Xử sĩ Sùng Chân; thế là một tín đồ đức Phật, một đệ tử thánh Khổng, sống chung hòa hợp trong cửa thiền môn. Ở đây tư tưởng Lão giáo không có đất để gieo mầm, cũng chẳng thấy bóng dáng một đạo sĩ nào.

Như vậy, Tín nữ Diệu Tính và Xử sĩ Sùng Chân có thể làm gì để “tìm cái nhất và cái chân” để giúp chúng sinh diệt bỏ “vọng niệm”, “sắc tầm”, đặng thoát khỏi “tứ sinh”, “tam giới”? (chùa có Phật, có Pháp nhưng không có Tăng, chưa đủ “ba yếu tố” để trở thành một trung tâm truyền giáo! (Huyện ủy, HĐND - UBND huyện Hà Trung, Địa chí huyện Hà Trung, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, tr.237-241).

Trong nhiều thế kỷ, chùa Linh Xứng là một danh lam, nhưng đến khoảng đầu thế kỷ XX đã đổ nát, hiện chỉ còn văn bia do Pháp Bảo soạn. Hiện nay, Bia đã được đem về trưng bày ở Viện Bảo tàng Lịch sử Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia), là một trong số ít bia thời Lý hiện còn đến ngày nay.

2. Sau việc xây dựng chùa Linh Xứng, công việc giáo hóa đạo Phật tiếp tục được phát triển mạnh mẽ, trong đó việc xây dựng các ngôi chùa có quy mô lớn như:

- Chùa Hương Nghiêm được xây dựng ở giáp Bối Lý, sau là làng Phủ Lý huyện Đông Sơn, nay là xã Thiệu Trung, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Chùa do Lê Lương quê ở hương Bối La, Ái Châu (Thanh Hóa), khởi tạo trong thời thuộc Đường (923 - 936). Lê Lương là Phúc Hộ, trong nhà thường có môn khách đông vài nghìn người. Ông đã cho xây chùa Hương Nghiêm và hai chùa khác là Trinh Nghiêm và Minh Nghiêm (Chùa Trinh Nghiêm và Minh Nghiêm nay đều thuộc huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa). Dưới thời Đinh Tiên Hoàng, Lê Lương được phong chức Trấn quốc bộc xạ kiêm Đô quốc dịch sứ Ái Châu, tước Kim Tử quang lộc đại phu. Khi vua Lê Đại Hành tuần du miền ngũ huyện giang cho tu sửa chùa. Vua Lý Thái Tổ đi về phương Nam ghé thăm chùa cho trùng tu và phong cho cháu nội của Lê Lương là Đạo Quang làm Thiền chủ. Con của Đạo Quang là Đạo Dung trở lại chùa Hương Nghiêm, gặp Thái úy Lý Thường Kiệt (lúc bấy giớ kiêm chức Tổng trấn Thanh Hóa) để đề xuất việc sửa chùa, được Lý Thường Kiệt hết lòng tán trợ. Năm 1122, Đạo Dung lại về thăm quê cũ, trùng tu chùa quy mô to lớn lộng lẫy. Đạo Dung mất ngày 5 tháng 2 năm Giáp Ngọ niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo (3/1174), là thiền sư thuộc thế hệ thứ 15 dòng Tì Ni Đa Lưu Chi (Thiền uyển tập anh ghi thiền sư hiệu là Pháp Dung cũng là Đạo Dung thiền sư). Chùa Hương Nghiêm đổ nát từ lâu, nay đã được trùng tu tôn tạo lại. Chùa còn tấm bia ghi việc trùng tu năm 1122 khắc đá cuối đông năm Giáp Thìn, niên hiệu Thiên Phù Duệ Vũ thứ 5 (1125), hiện chưa biết được soạn giả (Theo Từ điển di tích văn hóa  Việt Nam, Nxb Khoa học Xã hội Hà Nội và Nxb Mũi Cà Mau, 1993).

 Chùa Hương Nghiêm trong một lễ tri ân.jpg

Chùa Hương Nghiêm trong một lễ tri ân.

- Chùa Báo Ân được xây dựng từ mùa hạ năm Kỷ Mão (1099) đến mùa hạ năm Canh Thìn (1100) thì hoàn thành. Theo An Hoạch Sơn Báo Ân tự bi ký do Thự Mẫn Thư Lang, quản câu ngự phủ, đồng trung thư kiêm biên tu Chu Văn Thường soạn, cho biết: Thái úy Lý Công (Lý Thường Kiệt) sai một thị giả là Giáp Thủ Vũ Thừa Thao suất lĩnh người hương Cửu Chân, dò núi tìm đá trong mười chín năm. Khi xây chùa thì "Tất cả những người ở xứ này, hiền ngu lần lượt, giàu nghèo đúng phiên đều san đất dẫy cổ, dựng một ngôi chùa gọi là chùa Báo Ân. Giữa đặt tượng Phật, dưới đặt tượng Bồ Tát sắc ánh như vàng, đẹp như tranh vẽ... Mái tường rực rỡ là nhờ một sớm nét đan thanh điểm xuyết, trăm năm khí tượng mãi thơm tho" (Thơ văn Lý Trần - Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 1977, tr. 310).

 Lễ rước nước chùa Báo Ân.jpg

Lễ rước nước chùa Báo Ân (Vĩnh Lộc).

- Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh: Nay thuộc làng Duy Trinh, xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc được xây dựng sau sự kiện tháng Hai năm Bính Thân, niên hiệu Hội Tường Đại Khánh thứ 7 (3/1116) vua Lý Nhân Tông đi tuần phương Nam, xa giá dừng chân ở trị sở Châu Ái. Nhân dịp ấy Tri Thanh Hóa quân sự họ Chu bàn với các thuộc viên và phụ lão ở địa phương muốn làm việc công đức để báo ơn vua, chúc quốc vận trường tồn. Họ Chu bèn giao cho huyện lệnh là Lê Chiếu dựng lại ngôi chùa trên nền một ngôi chùa cổ đã đổ nát. Dân bản huyện góp lương, góp sức san gò lấp trũng, thợ mộc, thợ nề gắng sức trong 2 năm, dựng xong chùa vào khoảng cuối năm Mậu Tuất Hội tường Đại Khánh thứ 9 (1118). Quy mô kiến trúc to lớn, xây dựng chạm trổ công phu,... Nóc nhà uốn như trĩ bay xòe cánh, đầu cột chạm trổ như phượng múa lân chầu. Mái cong lấp lánh dưới ánh mặt trời, hiên lượn quanh co trước gió... lại quyên góp đồng tốt ở địa phương được hơn 3000 cân để đúc chuông và ba pho tượng Như Lai cùng tượng cái Bồ Tát, Ca Diếp, Di Lặc,... qua các triều đại tiếp theo, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh là một thiền viện có danh tiếng ở đất Ái Châu. Hiện nay chùa đã được trùng tu, tôn tạo lại, đặc biệt trong chùa còn một tấm bia do Thông Thiền Hải Chiến đại sư tự Pháp Bảo soạn năm Hội Tường Đại Khánh thứ 9 (1118) (Theo Từ điển di tích văn hóa Việt Nam, Sđd).

 Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc.jpg

Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh, xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc.

Trên đây là vài nét về ngôi chùa Linh Xứng và một số ngôi chùa tiêu biểu khác được xây dựng từ thời Lý trên đất Thanh Hóa, qua ghi chép trong các nguồn thư tịch cổ. Ngày nay, những dấu tích chỉ còn lại ít ỏi, nhưng dù sao thì trong dòng chảy của Phật giáo Việt Nam, những ngôi chùa này cũng đã làm tròn nhiệm vụ lịch sử của mình trước thời đại.

TS. Phạm Văn Tuấn (GĐ Trung tâm Bảo tồn DSVH Thanh Hóa)

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1