GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Bình Định Vương Lê Lợi lãnh tụ khởi nghĩa Lam Sơn

Đăng lúc: 10/06/2018 10:00 (GMT+7)

- Lê Lợi sinh ngày mồng 6 tháng 8 năm Ất Sửu (1385) tại trại Như Áng. Ông cụ cố của ông là Lê Hối, người ở hương Lam Sơn huyện Lương Giang, phủ Thanh Hóa. Có lẽ Lê Hối đã là một người có vị trí nhất định trong bản Mường hồi đó vì trong sách Lam Sơn thực lục, Lê Lợi cũng gọi Lê Hối là Lam Sơn đông chủ.

Ông nội của Lê Lợi là Lê Đinh, nối nghiệp của cha, cẩn thận lo liệu việc gia đình. Những người chung quanh đã đến quê phụ, tay chân có đến hàng trăm ngàn. Vậy là họ Lê đã phát đạt, những người đầu họ đã làm “quận trưởng cả một vùng” (theo sách Lam Sơn thực lục). Lê Đinh có hai con, người đầu là Lê Tông, người thứ hai là Lê Khoáng.

Lê Khoáng là thân sinh của Lê Lợi. Ông lấy vợ là Trịnh Thị Thương, sinh được ba con: Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi. Lê Học mất sớm chỉ còn lại hai em. Lê Trừ không có gì xuất sắc lắm. Lê Lợi là người nối nghiệp cha anh, điều hành công việc trong trang trại.

Không có tài liệu nào cho biết trong buổi thiếu thời, Lê Lợi được học hành, đào tạo ra sao. Ai là vị thầy học của ông, các bạn bè cùng học cũng không rõ là người nào cả. Có lẽ ông cũng phải học theo Nho học thời bấy giờ: Những sách như Tứ Thư Ngũ Kinh và được đọc thêm nhiều tài liệu khác; Nhưng hoàn toàn không thấy ông có một ý kiến (câu nói hay lời viết) nào liên hệ đến các kiến thức sách vở, kinh truyện. Song, trình độ học lực của ông cũng không phải tầm thường. Ông có để lại mấy bài thơ khá điêu luyện. Những bài như Bình Ngô đại cáo, Hậu tự huấn làm lời của ông, song ta đã biết chắc là do văn thần viết thay. Và cả cuốn Lam Sơn thực lục có phải do ông viết lấy (nãi bút vu thư) hay do ông sai người làm (đế mệnh tác) đang còn đợi xác minh kỹ càng hơn nữa.

Điều rõ ràng là Lê Lợi có trình độ học vấn cao và đặc biệt là ông hướng sự tích lũy nâng cao trình độ mình ở một số phương diện khác: chính trị và quân sự. Gia đình ông không có truyền thống về võ, cũng không ai ra làm quan chức nhưng cũng có chí hướng tự tu dưỡng về mặt này. Ông “chuyên tâm đọc sách thao lược” và “dốc sạch của cải đãi khách khứa rất hậu, đón mời người trốn tránh, thu nạp người chống đối giặc Minh, ngấm ngầm nuôi giấu những kẻ sĩ mưu trí (Lam Sơn thực lục).

 Lê Lợi nghe Nguyễn Trãi đọc Bình Ngô đại cáo (tranh sơn dầu của Hoàng Hoa Mai).JPG

Lê Lợi nghe Nguyễn Trãi đọc Bình Ngô đại cáo (tranh sơn dầu của Hoàng Hoa Mai).

Hiện nay, khó có điều kiện để vẽ được một bức chân dung Lê Lợi xác thực về mặt hình thức. Các sách Lam Sơn thực lục, Văn bia Vĩnh Lăng không ghi chép gì. Sách Đại Việt sử ký toàn thưHoàng Lê Ngọc Phả ghi rằng Lê Lợi là “một người thiên tư tuấn tú khác thường, tinh thần và dáng người tinh anh mạnh mẽ, mắt sáng, miệng rộng, mũi cao, mặt có nốt ruồi, tiếng nói như chuông, đi như rồng, bước như hổ, kẻ thức giả đều biết là người phi thường”.

Điều quan trọng mà có ý nghĩa nhất trong con người Lê Lợi vào tuổi thiếu thời là ông sớm có bản lĩnh, suy xét lẽ hưng vong để chọn đường đi cho thích hợp. Vào thời gian đó, ở nước ta có nhiều thế lực nơi này nơi khác, ai cũng mong khởi sự hoặc đã khởi sự để góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc. Nhà Hồ, nhà Trần tuy đã mất nhưng cảm tình với dân chúng hãy còn sâu sắc mà những con cháu hoàng tộc hay các trung thần nghĩa sĩ cũng vẫn muốn phát huy ảnh hưởng của mình. Những người đứng lên, tụ tập một số bộ hạ để đương đầu với địch không phải là ít và cũng có nhiều người đã có thế lực, đã tự mình vùng vẫy, hoạt động mạnh mẽ trên một số địa bàn. Lê Lợi tự mình dưỡng uy súc nhuệ để có thể đi xa. Chọn được con đường tiến thủ là một hướng, một cách làm sáng suốt của ông.

Sử sách cũng không ghi chép được những sự kiện cụ thể nhưng nhìn vào cách sinh hoạt trong nội bộ trại Như Áng và căn cứ Lam Sơn, ta có thể nhận ra đức tính của Lê Lợi. Phải là người có uy tín thế nào, có phương pháp giáo dục và trình độ thuyết phục nhất định, Lê Lợi mới khiến cho cả người trong nhà, trong họ, trong bản mường, trong doanh trại đồng tâm và đoàn kết. Ở đây có tình nghĩa gia đình huyết tộc. Cả họ Lê Lợi không thiếu một ai. Hình như Lê Lợi đã có khuynh hướng kết chặt giây liên lạc Lam Sơn bằng mối tình huyết tộc.

Tình bạn của Lê Lợi với những người đồng hương, đồng quận, đồng chí cũng rất đáng quan tâm. Không kể bạn đánh cá của ông là Lê Thận, bạn cùng vai đạo mường, hào trưởng là Lê Hiểm, Lê Lai ông còn kết thân với Lê Sát, Lê Ngân, Lê Lý đều ở các sách các thôn bên cạnh. Ngoài ra còn rất nhiều người bạn đến từ huyện Nông Cống và các huyện khác của xứ Thanh.

Lam Sơn còn có những người gia nhân của “quận trưởng” họ Lê. Nhưng hình như họ không chỉ có với Lê Lợi mối quan hệ gia trưởng gia nô, mà có cả quan hệ tình bạn. Chứng cứ là hai ông Võ Uy, Trương Chiến nhiều tài liệu cho biết là gia nhân của Lê Lợi nhưng vẫn có tên trong văn thề Lũng Nhai nghĩa là cùng bình đẳng trách nhiệm với Lê Lợi. Hai cha con ngô Kinh và Ngô Từ vốn là gia nô nhưng sau này Ngô Từ thành bố vợ của Lê Thánh Tông (vì sinh ra Ngô Thị Ngọc Dao) nên là bạn thông gia của Lê Lợi. Cái tình thông gia duyên lứa này cũng phát triển đằm thắm ở Lam Sơn. Con gái Lê Văn An là dâu Bùi Quốc Hưng, con trai Lê Hiểm làm rể Nguyễn Chích. Quả thực Lam Sơn là một đại gia đình thân tộc, dưới sự đùm bọc chở che của ông chủ gia đình là Lê Lợi.

Giai thoại về Lê Lợi, trong suốt thời gian khởi nghĩa cho ta thấy nhiều mẩu chuyện cảm động và chứng tỏ bản sắc con người Lê Lợi. Rõ ràng ông rất gần gũi với nhân dân, được nhân dân bù trì che chở. Nhiều nhà lãnh tụ, nhiều vị tướng lĩnh cũng có những hoàn cảnh trường hợp như Lê Lợi song việc xảy ra chỉ có một lần, còn việc đến với Lê Lợi thì rất là liên tục. Những người gần gũi với Lê Lợi, hoặc là một bác nông dân, một bà mẹ già chất phác, một người dân nơi rừng núi xa xôi nhiều lần bảo vệ cho ông thoát khỏi tay giặc.

Giai thoại về Lê Lợi còn cho ta biết rất nhiều chuyện như việc đặt tên các làng. Đây cũng là điều mà các vua chúa, thủ lĩnh ngày xưa không có. Lê Lợi đã gắn mình vào với cái “văn hóa làng” cổ truyền của đất nước mà các làng ấy, làng thì chăm lo việc cấy cày (làng Tiến Nông), làng thì giàu tinh thần cảnh giác (làng Chí Cẩn), làng thì phong phú nghĩa tình (làng Phù Lê).

Điều nổi bật nhất ở khởi nghĩa Lam Sơn, là sự quan tâm đặt lên hàng đầu vấn đề lý luận. Đây có lẽ là sự tâm đắc của chủ soái Lam Sơn được một nhà lý luận có tài phò tá cho ông, xây dựng thành tầm chiến lược. Không một cuộc khởi nghĩa, một cuộc nổi dậy hay một triều đại nào trước đó đặt vấn đề này, mặc dù có thể ở phần sâu kín nhất, người ta tất nhiên cũng tự hình dung được. Từ Lê Hoàn đến Lý Công Uẩn, Trần Cảnh (và linh hồn của nhà Trần là Trần Thủ Độ) đều không ai đưa ra lý luận đường lối xây dựng quốc gia của mình. Sau này Trần Hưng Đạo đúc kết thành phương châm: Lấy trường binh chống đoản binh, khoan thứ sức dân... Còn một số nhà chỉ huy khác như Trần Nguyệt Hồ, Lê Ngã... thì chỉ là những hào kiệt nổi lên, chủ yếu xoay xở bằng sức mạnh. Không đủ sức mạnh, phong trào của họ tất nhiên bị tan rã. Lê Lợi có đường lối, có lý luận và đường lối lý luận ấy đã được Nguyễn Trãi đúc kết: “Lấy đại nghĩa thắng hung tàn, lấy chí nhân thay cường bạo” và “mưu phạt tâm công”, chẳng đánh mà người chịu khuất. Cái vĩ đại, cái lớn lao của khởi nghĩa Lam Sơn là chỗ đó và sự hơn người của Lê Lợi cũng chính ở điểm này.

Một đức tính khác của Lê Lợi là ở cương vị một vị chỉ huy quân sự, ông đã tỏ ra có tài điều binh khiển tướng, đã sử dụng được những thủ hạ của mình một cách linh hoạt tài tình. Những người được ông sai phái đi đâu, đều hoàn toàn thi hành được đầy đủ nhiệm vụ, đạt được thành công. Vấn đề tưởng như bình thường đơn giản. Nhưng thật là khó, vì trình độ của các tướng Lam Sơn nhiều người không biết chữ. Họ là những người vứt bỏ cuốc cày ra cầm giáo mác. Vậy sao họ có khả năng chiến đấu, có trình độ thao lược? Có lẽ trước khi ra trận, họ đã được chủ tướng và bộ tham mưu bày vẽ, giúp thông mưu lược, nắm chắc ý đồ, sau đó mới đến việc phát huy sức mạnh của mình trong chiến đấu. Lê Lợi đã tỏ ra là một nhà tổ chức giỏi, biết mình biết người, nắm chắc ưu điểm, nhược điểm của thủ hạ và của cả đối phương.

Cuối cùng, Lê Lợi còn một ưu điểm nữa, cái ưu điểm của người lãnh tụ: Biết quyết đoán và biết nghe lời nói phải. Nguyễn Trãi đã rất tự hào nói về nhà lãnh tụ của mình “nói tất nghe mà kế tất theo”. Người hiến kế lúc này có nhiều, Lê Lợi đã lắng nghe tất cả và đã có thể quyết đoán ngay, quyết đoán theo những cái đúng, không rụt rè ngần ngại. Ông biết cân nhắc để chọn chiến thuật cho những trận đánh. Ông biết nhìn xa trông rộng để vạch ra những chiến lược cho các chặng đường hoạt động như việc tiến vào Nghệ An theo kế hoạch của Nguyễn Chích. Vạch ra kế hoạch cho cả cuộc kháng chiến trường kỳ “Việc nhân nghĩa cốt ở an dân” của Nguyễn Trãi.

Sự nghe lời nói phải và trình độ quyết đoán cuối cùng đã giúp cho ông thành công và đi đến hoàn toàn thắng lợi.

Trần Thị Liên

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1