GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Biểu tượng Thanh Hóa trên cửu đỉnh trong kinh thành Huế

Đăng lúc: 06/01/2018 14:00 (GMT+7)

- Thanh Hóa tự hào vì trong số các biểu tượng được khắc trên Cửu đỉnh có hai biểu tượng thuộc Thanh Hóa đó là núi Thiên Tôn (Thiên Tôn sơn) được khắc trên hàng giữa của Cao đỉnh và sông Mã (Mã giang) cũng được khắc ở hàng giữa của Anh đỉnh.

Trong các vua chúa triều Nguyễn, đức vua Minh Mạng luôn được đề cao là vị vua anh minh có nhiều đề xướng và nhiều cải cách thành công nhất. Trong đó việc xây dựng hệ thống cung điện lăng miếu đền đài ở Kinh thành Huế là một minh chứng sáng soi.

Khi xây dựng Kinh thành Huế vua đã cho đúc Cửu đỉnh gồm: Cao đỉnh, Nhân đỉnh, Chương đỉnh, Anh đỉnh, Nghị đỉnh,Thuần đỉnh, Tuyên đỉnh, Dụ đỉnh và Huyền đỉnh thể hiện sự thành công của công cuộc trị vì đất nước. Sâu sắc hơn nhà vua muốn truyền đi thông điệp mạnh mẽ, thể hiện tinh thần “các đế nhất phương” (Làm đế một phương) khẳng định sự chính thống và sự trường tồn của triều đại: “Chú Cửu đỉnh dĩ tượng thành công” mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc, mới mẻ tinh khôi khác hoàn toàn với vua Hạ Vũ bên Trung Quốc đúc Cửu đỉnh tượng trưng cho chín châu của lãnh thổ Trung Hoa trước Công nguyên (Chú Cửu đỉnh dĩ tượng cửu châu).

Đặc biệt, các hệ thống hình ảnh biểu tượng được đúc nổi trên thân Cửu đỉnh được triều chính luận bàn và cho đúc sắc nét nổi khối trên 9 đỉnh cũng có thể coi là bộ bách khoa toàn thư sống động, đẹp đẽ về đất nước Tổ quốc Việt Nam thời bấy giờ. Rồng - biểu tượng của sự linh thiêng, quyền uy cũng được xem là biểu tượng của Hoàng đế chính vị, ứng với án thờ Thế tổ Cao Hoàng đế Gia Long trong Thể tổ miếu, ngoài ra trên các đỉnh có nhiều hình ảnh mang tính biểu tượng lại vừa mang tính tiêu biểu cho các lực lượng siêu nhiên  trong vũ trụ có sức mạnh vô biên, tác động chi phối, điều khiển cuộc sống của con người đó là: Mặt trời, mặt trăng, các vì tinh tú, sấm chớp, gió mưa...

 cửu đỉnh Huế.JPG

Các hình ảnh đúc trên Cửu đỉnh là bộ bách khoa thư sống động về đất nước và con người Việt Nam.

Thi vị và hữu tình khi trên Cửu đỉnh xuất hiện hình ảnh của các loại cây, các con vật và  đông đúc các sản vật là lương thực, thực phẩm của mọi miền như: lúa nước, kê, mỳ, đậu rau củ, quả, các loại muông thú nơi rừng vàng như: Voi, hổ, báo, tê giác, bò rừng... các sản vật của biển bạc như: cá voi, ba ba, đồi mồi, rùa thiêng... các loại cây lấy gỗ, lấy tinh dầu như: Hoàng đàn, lim, kỳ nam, trầm, hoặc  các loài cây trái như: nhãn, mít, cau xoài... 10 loại hoa như sen, hải đường, dâm bụt... ý niệm mà nhà vua muốn truyền đạt là sự phong phú, phồn thịnh của tài nguyên đất nước.

Một đặc sắc nữa của Cửu đỉnh là việc cho khắc các địa danh có những ngọn núi đặc biệt có ý nghĩa đối với triều Nguyễn núi Thiên Tôn (đất quý hương nhà Nguyễn). Sông Hương núi Ngự, đại diện cho miền Trung. Sông Bến Nghé, sông Tiền, sông Hậu, đại diện cho vùng đất mà tổ tiên Nhà Nguyễn đã chinh phục, đại định  trong công cuộc mở cõi ở phương Nam, là nơi  Nguyễn Ánh dấy nghiệp binh nhung. Một số con kênh đào như: kênh Vĩnh Tế, kênh Vĩnh Định, kênh Vĩnh Điện, kênh Cự An, kênh Lợi Nông, kênh Phố Lợi...

 Thiên Tôn sơn được khắc trên Cao đỉnh.JPG

Thiên Tôn sơn được khắc trên Cao đỉnh.

 Mã giang.JPG

Mã giang chảy suốt chiều dài xứ Thanh.

Không thể không nói tới các đại diện về lĩnh vực về quân sự với những phát minh sáng chế thần diệu như: Đại pháo, súng điêu thương, các chiến thuyền, các quan hải hiểm yếu như: Hải Vân quan, Quảng Bình quan, các cửa biển như: Hải khẩu Cần Giờ, Hải khẩu Thuận An, Hải khẩu Đà Nẵng cũng được thể hiện trên cửu đỉnh.

Việc đặt tên cho từng Cửu đỉnh cũng hàm nghĩa nhân văn cao cả, tên của các cửu đỉnh cũng lần lượt ứng với các miếu hiệu của các vị vua được thờ trong Thế Tổ miếu. Triều Nguyễn có 13 vị vua, nhưng theo điển chế chỉ có 7 vị vua băng hà khi đang chính ngôi mới được dâng miếu hiệu và thụy hiệu. Bởi vậy có 7 cửu đỉnh được tên: Cao đỉnh ứng với gian thờ của Thế Tổ Cao Hàng đế Gia Long, Nhân đỉnh ứng với gian thờ của Thánh Tổ Nhân Hoàng đế Minh Mạng, Chương đỉnh ứng với gian thờ Hiển Tổ Chương Hoàng đế Thiệu Trị, Anh đỉnh ứng với gian thờ Dục Tông Anh Hoàng đế Tự Đức, Nghị đỉnh ứng với gian thờ của Vua Giản Tông Nghị Hoàng đế Kiến Phúc, Thuần đỉnh ứng với gian thờ của Cảnh Tông Thuần Hoàng đế Đồng Khánh, Tuyên đỉnh ứng với gian thờ của Hoằng Tông Tuyên Hoàng đế Khải Định, thờ trong Thế Tổ miếu.

Cửu đỉnh được khởi công đúc từ tháng 12 năm 1835 đến năm 1837 mới hoàn thiện. Việc hành lễ trước và sau khi đúc rất nghiêm trang, linh thiêng từ lễ cáo đến lễ tất, lễ tạ và được đặt trong Thế Tổ miếu nguyên vị trí từ bấy đến nay. Cửu đỉnh  là thể hiện đỉnh cao của kỹ thuật đúc và chế tác đồng thời Nguyễn. Theo sử sách và truyền ngôn, mỗi đỉnh phải dùng 60 lò nấu đồng góp lại, mỗi lò chỉ nấu được 30-40 kg đồng. Cách thức rót đồng là rót từ chân đỉnh, nghĩa là khuôn đúc được lật ngược lại. Các họa tiết được đúc trên đỉnh đồng liền một khối bởi được tạo tác từ trong khuôn. Việc đúc đồng được huy động một khối lượng nghệ nhân giỏi, các nhân công chuyên tâm thạo nghề. Vua Minh Mạng đã nhận xét: “Việc đúc cố nhiên là ở nhân công, nhưng đồ quý trọng mà làm được, không phải không có thần giúp sức” Ông P Chovet, Hiệu trưởng Trường Bách công Huế giai đoạn đầu thế kỷ XX có lời khen: “Cách xây các khuôn đúc là rất hay và chứng tỏ trong lĩnh vực này những người thợ đúc An Nam đã đạt trình độ điêu luyện ngang với những thợ đúc của châu Âu”.

Tìm hiểu nguồn gốc xuất xứ về sự ra đời của Cửu đỉnh các nhà sử học đã tìm được cứ liệu xác thực, đó là Chỉ dụ năm 1837 của vua Minh Mạng: “Trẫm xem xét đời xưa đúc đỉnh theo hình các vật, nhưng đồ cổ ít còn, nhà biên chép truyền nói