GMT+7
Trang chủ / Sắc thái xứ Thanh

Bảo tồn và phát huy giá trị những ngôi đình miền tây xứ Thanh

Đăng lúc: 24/08/2018 14:00 (GMT+7)

- Xứ Thanh là miền đất hầu như hội đủ các yếu tố địa chính trị - lịch sử - văn hoá của đất nước Việt Nam thu nhỏ. Miền đất này xuyên suốt hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc, bồi tụ bởi nhiều mạch nguồn văn hoá. Mỗi làng quê xứ Thanh đều gắn với một địa danh lịch sử.

Với 1.535 di tích, ở đó không chỉ chứa đựng những giá trị văn hoá vật thể quí giá và đặc sắc, mà chính ở các di tích này còn tiềm ẩn nhiều giá trị văn hoá phi vật thể tiêu biểu: Thần tích, huyền thoại, tục ngữ, ca dao, lễ tục, lễ hội, văn hoá ẩm thực... gắn với các nhân vật được thờ phụng, phản ánh đậm nét truyền thống dựng nước và giữ nước vẻ vang của dân tộc trên đất xứ Thanh.

Đình làng thờ Thành hoàng là các vị Nhiên thần, Thiên thần, Nhân thần... không chỉ là thiết chế văn hóa, mà quan trọng hơn với các hoạt động nhằm thỏa mãn những nhu cầu của con người trở về nguồn, cố kết và biểu dương sức mạnh cộng đồng, cân bằng đời sống tâm linh, sáng tạo và hưởng thụ các giá trị văn hóa và còn là nơi bảo tàng sống văn hóa cổ truyền của dân tộc. Đình làng xứ Thanh kết tinh nhiều giá trị, di sản văn hóa vật thể và phi vật thể phong phú và độc đáo, nơi bảo lưu sắc thái văn hoá quê Thanh để phát triển kinh tế, du lịch.

Trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa ở miền xuôi vẫn còn nhiều ngôi đình thờ các vị Thành hoàng bảo trợ cho cuộc sống của cư dân bản địa, thế nhưng ở miền Tây xứ Thanh, trải thời gian cho đến nay những ngôi đình còn tồn tại rất hiếm. Cách đây chưa lâu ở làng Mu Chè, xã Lương Trung, huyện Bá Thước vẫn còn ngôi đình bằng gỗ khang trang, hàng năm mở hội dâng cúng Thành hoàng vào dịp Khai hạ (từ mùng 5 đến mùng 7 tháng Giêng) không chỉ thu hút các làng ở mường Khôông mà còn lôi cuốn các mường khác trong vùng về hội, nhưng sau khi đình đổ nát thì việc dâng cúng và chiêm bái Thành hoàng ở đây không còn duy trì nữa. Theo khảo sát của chúng tôi, ở miền Tây Thanh Hóa hiện chỉ còn tồn tại 2 ngôi đình của dân tộc Mường và dân tộc Thổ, đó là đình Mường Đòn của đồng bào Mường (huyện Thạch Thành), Đình Thi của đồng bào Thổ (huyện Như Xuân) và một số ngôi đình cổ nằm trong không gian văn hóa Mường - Việt.

1. Đình Thi

Đình Thi nằm ở trung tâm làng Trung Thành, xã Yên Lễ, huyện Như Xuân, cách thị trấn Yên Cát - lỵ sở huyện Như Xuân 3 km về phía Tây Bắc. Làng Trung Thành trước đây có tên là làng Sẹt, vùng này trước đây có nhiều cây Lim Sẹt mọc thành rừng, nên làng có tên làng Sẹt là như vậy.

Với địa hình do thiên nhiên kiến tạo, làng Trung Thành có núi đồi, suối, đập nước và ruộng thấp. Đình Thi được xây dựng trên gò đất cao, có xóm làng và những ruộng nước bao quanh, ở phía Nam có núi Mùn Tượng (dân địa phương còn gọi là núi chóp nón), phía Bắc có núi Đồng Cổ, phía trước mặt là cánh đồng Thi (hay còn gọi là đồng Sẹt), phía sau đình là cánh đồng Lánh và những xóm làng ven chân núi. Có thể coi Đình Thi là di tích duy nhất của đồng bào dân tộc Thổ của huyện Như Xuân. Đình Thi được Nhà nước xếp hạng là di tích cấp tỉnh tại Quyết định số 98 ngày 14/12/1995, loại hình di tích lịch sử văn hoá.

Làng Trung Thành, xã Yên Lễ có từ thế kỷ XV. Người có công đầu tiên trong việc lập làng Sẹt là Lê Phúc Thành - người có công lớn trong cuộc khởi nghĩa Lam Sơn từ những năm đầu của cuộc kháng chiến chống Minh gian khổ. Vì vậy, ông được dân làng Trung Thành tôn thờ làm Thành hoàng.

 đình thi, ảnh- T.Đ.jpg

Đình Thi. (Ảnh: T.Đ)

Theo các cụ trong làng kể lại, đền Thi được xây dựng vào năm 1495, thời Lê Sơ, được nhân dân trong làng trông coi và thờ cúng quanh năm. Trải qua thời gian, sự khắc nghiệt của thiên nhiên đền cũ đã bị hoang phế và thần vị của tướng quân Lê Phúc Thành được rước vào đình để thờ, đến năm 1949 đình bị xuống cấp và mục nát, ngôi đền thờ thần mới được tu bổ và dựng lại vào những năm 90 của thế kỷ XX trong không gian của đền, đình trước đây. Những năm đầu của thế kỷ XXI, Đình Thi được tôn tạo và rước thần vị của tướng quân Lê Phúc Thành về thờ trên khu đất ngôi đình cũ.

Ngày giỗ của tướng quân Lê Phúc Thành được tổ chức vào ngày 16/3 âm lịch hàng năm, và đó cũng là ngày hội của đồng bào Thổ không chỉ thôn Trung Thành, xã Yên Lễ mà còn là ngày hội của đồng bào Thổ các xã Hoá Quỳ, Cát Tiên, Cát Vân, Xuân Bình, Thượng Ninh... huyện Như Xuân

2. Đình Mường Đòn

Mường Đòn là tên gọi chung của các thôn: Vân Phú, Vân Phong, Vân Tiến, Vân Đình thuộc xã Thành Mỹ, huyện Thạch Thành. Đình Mường Đòn thờ vị thần Bạch Mã Linh Lang. Theo tư liệu khảo sát qua văn bản Hán Nôm: Thần phả - Sắc phong (hiện còn 12 đạo sắc phong và hơn 30 bản sao sắc phong qua các triều từ thời Lê đến năm 1925), khẳng định tên thần là bậc Đại Vương thượng đẳng thần “Bạch Mã Linh Lang” hay còn gọi bậc “Ngư phương Dung-Trung Vương, Đại Vương” Bạch Mã, ông là một ông Thần- Quân vương chuyên dùng Ngựa trắng (Bạch Mã). Thần Bạch Mã là người có nhiều công lao phò vua cứu nước.

Đình Mường Đòn tọa lạc trên sườn phía Nam của một đồi thấp. Phía trước là một cánh đồng tiếp đến là Sông Bưởi. Ngày nay phía trước là một khu dân cư, giữa đồng có đường kinh tế mới. Phía sau (Bắc) dựa vào đồi núi tạo thế vững chắc. Bên tả có dãy núi đá vôi, phía hữu có dòng suối uốn lượn (nay là dòng sông Bưởi), các cụ gọi là thế Tay Ngai “Tiền án, Hậu chẩm, Tư thanh Long hữu bạch hổ”, tạo nên thế phong thuỷ hài hoà.

Đình Mường Đòn được xây dựng từ thời Hậu Lê đã được tu sửa nhiều lần, lần cuối cùng sửa chữa và lưu trên thượng lương, đó là niên đại: “Hoàng Triều Bảo Đại thập niên tức thứ trung tu...” - năm thứ 10 niên hiệu Bảo Đại (tức năm 1935) cho sửa chữa tôn tạo lớn.

Đình Mường Đòn là di tích kiến trúc gỗ có giá trị nghệ thuật xứ Mường còn tồn tại đến nay, lưu giữ nhiều văn bản Hán Nôm cũng như các đồ thờ có giá trị lịch sử và nghệ thuật. Trải qua bao biến thiên lịch sử, sự hủy hoại của thiên nhiên, môi trường, song với sự quan tâm bảo vệ tôn tạo của các cấp, các ngành ở địa phương. Đặc biệt là các cụ phụ lão rất ý thức và trân trọng di tích nên di tích còn tồn tại tương đối tốt. Có tổ quản lý từ xã đến thôn, có nhiệm vụ bảo vệ, tôn tạo phục vụ khách và nhân dân. Đồng thời rất dày công sưu tầm nghiên cứu các nguồn tài liệu và thường xuyên tổ chức các hoạt động văn hóa văn nghệ đặc biệt là diễn tuồng gợi lại cội nguồn lịch sử được mọi người ưa thích để cùng bảo vệ phát huy truyền thống dân tộc.

3. Một số ngôi đình nằm trong không gian văn hóa Mường - Việt

Đình Vân Trai, xã Cẩm Vân, huyện Cẩm Thủy

Làng Vân Trai có đình thờ Thành hoàng Độc Cước. Đình dựng ở trung tâm làng hướng về phía Nam, trông ra sông Mã. Trước đình có trụ biểu, trên đỉnh đắp 2 Nghê, bên dưới đắp hình Hổ phù và Hộ pháp. Sau tứ trụ  là bức bình phong có đắp chữ thọ và Hổ phù để trấn trạch.

Đình làng Vân Trai có năm gian, hai chái bằng gỗ, chung quanh xây gạch, cửa bức bàn, theo thức kiến trúc thời Nguyễn. Kiến trúc đình bằng gỗ được chạm khắc công phu với đề tài tứ Long, tứ quý, trúc hóa Long, Hổ phù... rất tinh xảo. Gian giữa thờ công đồng, có chấp kích, bát biểu, kiệu thờ. Nhà tiền đường có đại tự, câu đối bằng gỗ, sơn son, thếp vàng với những dòng chữ Hán, nội dung ca ngợi công đức của Thành hoàng.

Hậu cung xây gạch bao quanh, có hương án thờ Độc Cước và các đồ thờ như: đỉnh đồng, lư hương, đài rượu, độc bình, bản chúc, lọ hoa..., phía dưới có đôi Hạc sơn son thếp vàng chầu thánh. Trải các triều Lê, Nguyễn triều đình phong cho thần 8 đạo sắc. Đến nay còn giữ một sắc phong duy nhất có niên hiệu Khải Định, phong cho thần là “Thế tế hiển ứng, cương nghị siêu dũng, cường quả đoan tục. Hiển hiện lĩnh binh. Quang khánh hoằng hưu. Phù vận hồng nghiệp, bảo hựu hữu quốc... Sơn tiêu uy linh Độc Cước - Chu Văn Minh”. Trong đình có đôi câu đối ghi công tích của thần Độc Cước: Tấn Lê, phù Lý, diệt Ma Nhung/ Phụ chính ức tà thần thông diệu (Tấn phong nhà Lê, giúp đỡ nhà Lý, diệt các loại giặc/Trọng điều nghĩa, trừ phi nghĩa, là vị thần thông thái, linh nghiệm).

Đình Phong Ý, xã Cẩm Phong, huyện Cẩm Thủy

Đình Phong Ý đã bị đổ nát vào những năm 1970 của thế kỷ XX, hiện nay chỉ còn lại nền móng, chân tảng, đá bó vỉa, cột gỗ và thần tích bằng chữ Hán. Vẫn còn lại một số hoành phi, câu đối... được người dân bảo quản.

Tọa lạc trên nền đất khá cao ráo, thoáng đãng, hướng về phía Nam, trông ra dòng sông Mã, phía Bắc là thác Ngốc Cùng, trước đây, ngôi đình tọa lạc trông ra bến sông, là nơi tập kết của các loại lâm thổ sản từ núi rừng Miền Tây, để từ đây rời bến về xuôi. Trên bến, dưới sông đâu đâu cũng thấy đủ các loại gỗ, vì vậy mà dân gian luôn nhắc tới “trống Đồng Cổ, gỗ Phong Ý”.

Đình Phong Ý có 5 gian và hậu cung làm bằng gỗ lim to chắc, mái lợp ngói mũi hài được xây dựng từ thời Tự Đức, năm 1978 đình bị phá để lấy đất sản xuất. Trong đình có cung tẩm, ngai thánh  thờ Độc Cước và bát bửu, kiệu thờ cổ. Cách đình độ 1km về hướng Đông là Hang Chẹ (còn gọi là Chẹ Sơn), đó là hang động tự nhiên thờ thần Tiêu Sơn Độc Cước. Trước năm 1954, giỗ thần và cũng là lễ kỳ phúc của làng tổ chức vào ngày 11 tháng giêng, chính hội là ngày 12, lễ hội theo định kỳ 3 năm một lần làng mời chạ Vân Trai đến dự và tổ chức hát bội. Khi tế lễ thần Độc Cước dân làng Phong Ý và đồng bào Mường tổ chức rước kiệu từ  đình ra hang Chẹ rước lư hương của thần về đình để tế lễ. Trên núi Chẹ có dấu chân in trên đá tương truyền là dấu chân của thần Độc Cước. Trong hang Chẹ có hương án tự nhiên bằng đá, bát hương gốm thời Mạc và có tượng Hổ tạc bằng đá. Trong đình có 3 sắc phong của triều Nguyễn phong cho thần.

Đã thành lệ, vào ngày 10/4 âm lịch dân làng tổ chức “bắn bù”(bắn bầu) cầu mưa. Bù là lá sen đựng nước bên trong buộc lại treo lên trước mái đình. Ông chủ tế dùng cung tên làm bằng tre từ trong hậu cung bắn ra làm sao cho trúng 7 gói lá sen trong đựng đầy nước (7 quả bù tượng trưng cho 7 tháng trong năm và là thời gian tương ứng với vụ lúa mùa), dưới mỗi quả bù có một bẹ chuối dẫn nước chảy xuống đất. Nếu mũi tên bắn trúng nước chảy tung tóe thì năm đó dân làng tin rằng sẽ đủ mưa cây trồng tươi tốt, ngược lại nếu không bắn trúng hoặc trúng ít thì trời sẽ hạn hán, mùa màng sẽ thất bát. Nếu năm nào trời hạn, không có mưa dân làng lại rước kiệu bát cống của thần ra hang Chẹ để cầu mưa, người ta còn rước kiệu ra giữa sông Mã dìm kiệu xuống nước cho đến khi trời mưa mới rước vào đình.

Những ngôi đình hiện còn ở miền Tây Thanh Hóa đến nay thuộc "của hiếm". Đó là di tích - đình cổ, có giá trị về nhiều mặt rất cần được các cấp, các ngành, nhất là vai trò của cấp ủy, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội và đồng bào nơi đây cần bảo vệ, tu bổ, phát huy giá trị di tích, nhằm giáo dục truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo lý "Uống nước nhớ nguồn", tri ân và noi gương tiền nhân, động viên và khích lệ cháu con hăng hái lao động, học tập, dựng xây và bảo vệ đất nước, quê hương giàu đẹp, hạnh phúc, văn minh.

Hoàng Minh Tường

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1