GMT+7
Trang chủ / Khoa học / Sức khỏe

Quy định xử phạt tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN

Đăng lúc: 30/05/2018 12:00 (GMT+7)

- Bộ luật Hình sự năm 2015 bổ sung tội danh trốn đóng BHXH, BHTN, BHYT không những thể hiện quan điểm của cơ quan lập pháp về việc cần phải bảo vệ lĩnh vực BHXH, BHYT bằng pháp luật hình sự, mà còn cho thấy quan điểm lập pháp hình sự Việt Nam đang tiệm cận tới quan điểm quốc tế đối với việc bảo vệ lĩnh vực BHXH, BHYT trong bối cảnh hội nhập quốc tế, hợp tác quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay.

Việc bổ sung tội danh này cho phép xử lý những hành vi không đóng, không đóng đầy đủ số người, số tiền hoặc không đóng đúng thời gian quy định mà trước đây chưa xử lý được do không có tội danh tương ứng để áp dụng.

Quy định bổ sung Điều 216 Bộ luật Hình sự tạo cơ sở pháp lý để xử lý đối với cá nhân người sử dụng lao động; cho phép xử lý đối với pháp nhân thương mại cố tình trốn tránh nghĩa vụ đóng bảo hiểm gây thiệt hại về quyền lợi cho người lao động. Việc có thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những hành vi cố tình trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH, BHYT, BHTN của cá nhân và pháp nhân thương mại sẽ góp phần củng cố niềm tin của người dân đối với chính sách BHXH, BHYT của Nhà nước.

Điều 216. Tội trốn đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động

1. Người nào có nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN cho người lao động mà gian dối hoặc bằng thủ đoạn khác để không đóng hoặc không đóng đầy đủ theo quy định từ 06 tháng trở lên thuộc một trong những trường hợp sau đây, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 01 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm từ 50.000.000 đồng đến dưới 300.000.000 đồng;

b) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 10 người đến dưới 50 người lao động.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Phạm tội 02 lần trở lên;

b) Trốn đóng bảo hiểm từ 300.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng;

c) Trốn đóng bảo hiểm cho từ 50 người đến dưới 200 người;

d) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm a hoặc điểm b khoản 1 Điều này.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Trốn đóng bảo hiểm 1.000.000.000 đồng trở lên;

b) Trốn đóng bảo hiểm cho 200 người trở lên;

c) Không đóng số tiền bảo hiểm đã thu hoặc đã khấu trừ của người lao động quy định tại điểm b hoặc điểm c khoản 2 Điều này.

4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

5. Pháp nhân thương mại phạm tội quy định tại Điều này, thì bị phạt như sau:

a) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng;

b) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này, thì bị phạt tiền từ 500.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng;

c) Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều này, thì bị phạt tiền từ 1.000.000.000 đồng đến 3.000.000.000 đồng.

Đối chiếu các dấu hiệu được mô tả trong cấu thành cơ bản (dấu hiệu thời gian trốn đóng, số người bị trốn đóng, số tiền trốn đóng) và tình tiết tăng nặng định khung hình phạt trong các cấu thành tội phạm tăng nặng (Điểm d Khoản 2, Điểm c Khoản 3 Điều 216) với các hành vi bị cấm trong Điều 17 Luật BHXH và Điều 11 Luật BHYT, có thể thấy rằng các dấu hiệu này đã bao hàm đủ các dấu hiệu của các hành vi bị cấm trong nhóm hành vi vi phạm nghĩa vụ đóng BHXH, BHYT, BHTN.

P.V

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1


Dự báo thời tiết Thanh Hóa