GMT+7
Trang chủ / Dân tộc - Miền núi

Sự chủ động và tích cực của các tù trưởng miền núi trong khởi nghĩa Lam Sơn

Đăng lúc: 16/09/2018 08:00 (GMT+7)

- Nhà Trần với hào khí Đông A đã tổ chức cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc 3 lần đánh tan cuộc xâm lược của Đế quốc Nguyên - Mông. Đến cuối thế kỉ XIV thì đi vào con đường suy vong hết vai trò lịch sử.

Hồ Quý Ly, một trụ cột của nhà Trần không những không có ý vực dậy mà nhân đó cũng thay thế nhà Trần lập ra nhà Hồ. Sự kiện động trời đó không thu phục được lòng dân. Nhà Hồ trị vì đất nước mặc dù có nhiều cải cách về kinh tế, văn hóa, tăng cường tiềm lực quân sự, nhưng tất cả cái đó không tạo thành sức mạnh vì nó không có sự ủng hộ của nhân dân. Trong khi đó Nhà Minh sẵn có ý dòm ngó từ lâu, lấy cớ “phù Trần diệt Hồ” đã đưa đội quân hùng hậu vào xâm lược nước ta. Sau một thời gian ngắn, cuộc đánh trả của đội quân Nhà Hồ đã tan rã, triều đình và cha con Hồ Quý Ly thành tù binh, bị giải về Trung Quốc. Nhà Minh chính thức đặt ách thống trị lên đất nước ta. Đất nước lâm vào cảnh tài nguyên bị khua khoắng kiệt cùng, dân tộc trước nguy cơ diệt chủng, nền văn hóa trước họa bị xóa sạch.

Không chịu được sự tàn ác dã man đó nhân dân ta nhiều nơi đã nổi dậy chống lại ách thống trị của Nhà Minh, trong đó có một số cuộc nổi dậy của con cháu, quan lại nhà Trần. Suốt 20 năm dưới ách cai trị của nhà Minh, nước ta đã có tới 200 cuộc khởi nghĩa. Nhưng tất cả các cuộc khởi nghĩa lớn nhỏ đó đều bị đàn áp, nghĩa quân tan rã. Duy có cuộc khởi nghĩa Lam Sơn do Lê Lợi lãnh đạo từ cuộc nổi dậy ở một địa bàn miền núi, ban đầu, cả quân và tướng đều ít, dần dần trở thành cuộc khởi nghĩa toàn quốc và cuộc kháng chiến toàn dân, tập hợp được nhiều anh hùng hào kiệt, chiến đấu đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác; đánh tan bọn xâm lược, giải phóng đất nước, giành độc lập sau 10 năm gian khổ nằm gai nếm mật.

 Nhờ các kế sách quân sự của Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn liên tiếp dành được các thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh -Ảnh minh họa.).jpg

Nhờ các kế sách quân sự của Nguyễn Trãi, nghĩa quân Lam Sơn liên tiếp giành được các thắng lợi trong cuộc kháng chiến chống quân Minh. (Ảnh minh họa)

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra ở địa bàn miền núi giáp với miền xuôi. Lãnh tụ cuộc khởi nghĩa không thuộc dòng dõi vua quan mà chỉ là một hào trưởng của một vùng hẻo lánh làng Tram và dân sở tại thường gọi ngài là Đạo Tram, còn sách vở chữ nghĩa gọi ngài là một phụ đạo. Với điều kiện lịch sử cụ thể như vậy, ban đầu tập hợp lực lượng chủ yếu là các hào kiệt địa phương vùng Thọ Xuân, Thiệu Hóa, Vĩnh Lộc, Yên Định ngày nay. Đặc biệt, ông đã liên kết với các tù trưởng là lang đạo người Mường và phìa tạo người Thái ở vùng rừng núi Thanh Hóa. Các tù trưởng này đã chủ động và tích cực hưởng ứng cuộc khởi nghĩa. Lê Lợi đã kết nối với các tù trưởng vùng Thủy Chú là các phụ đạo họ Trịnh, liên kết, thu hút các tù trưởng họ Đinh như Đinh Lễ, Đinh Lộ, Đinh Liệt vùng Thủy Cối. Các lang đạo vùng Dựng Tú như Lê Lai có mặt ngay từ khi mới có Hội thề Lũng Nhai. Gia đình Lê Lai có tới 5 người là những tướng lĩnh chiến đấu trong hàng ngũ nghĩa quân mà nhiều người nổi bật đó là Lê Lai, Lê Niệm... Trong lịch sử không đủ ghi nhưng trong dân gian các vùng Cẩm Thủy, Ngọc Lặc, Lang Chánh, Bá Thước, Quan Hóa, Quan Sơn, Thường Xuân... còn truyền lại, chỉ ra các lang đạo, phìa tạo các Mường dọc sông Mã mà xưa gọi là Lỗi giang đã đứng ra huy động trai tráng vào lính, cung cấp lương thực cho nghĩa quân. Lập các trại nuôi voi (Thung Voi) luyện tập quân sĩ cho nghĩa quân. Một điều mà lịch sử ít ghi và người đời sau không rõ cho lắm là khi các lang đạo và phìa tạo ở miền núi đã theo về Lê Lợi là cả mường đều theo về làm mọi việc cho nghĩa quân. Bởi vì dân Mường lang đạo là phìa tạo như người chủ người cha, người thủ lĩnh quân sự và tinh thần của mình. Cùng với các hào kiệt ở miền xuôi đi theo nghĩa quân như Lê Văn Linh, Bùi Quốc Hưng, Nguyễn Xí, Nguyễn Chích,... Các tù trưởng miền núi trong nghĩa quân Lam Sơn là những người trung thành với lãnh tụ Lê  Lợi, chiến đấu dũng cảm, mưu lược. Nổi bật như Lê Lai, đổi áo hi sinh cho sự nghiệp. Đó là Đinh Lễ, Đinh Liệt, Lê Hiểm, Lê Lộng, Lê Hiêu, Lò Khằm Ban... Có người như Đinh Liệt phục vụ qua nhiều đời vua Lê và đã làm Tể Tướng dưới thời Lê Thánh Tông ...

Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn nổ ra ở Lam Sơn và nơi này cũng là căn cứ địa. Nhưng 6 năm đầu khi nghĩa quân hoạt động ở Thanh Hóa, nhiều lần nghĩa quân phải rời xa căn cứ vì sự tấn công của giặc. Vì căn cứ này không có núi sông hiểm trở, lại gần với Tây Đô. Cho nên ta thấy đại bản doanh, cả gia đình các tướng đều gần như di chuyển theo các trận phục kích, các trận đánh lớn nhỏ của nghĩa quân. Ngay năm 1418, khi mới khởi nghĩa, nghĩa quân đã phải rời căn cứ về Lạc Thủy (Cẩm Thủy nay) và tại đây có trận thắng lớn, đầu tiên. Từ đó ta thấy nghĩa quân liên tiếp đánh và thắng địch dọc triền sông Mã (Lỗi Giang). Đó là các trận Bồ Mộng, Kình Lộng, Ba Lẫm, Ống Ải, Quan Du,... Như vậy, địa phương cung cấp lính và lương thực cho nghĩa quân chủ yếu là vùng Cẩm Thủy, Bá Thước, Ngọc Lặc, Lang Chánh ngày nay.

Sáu năm đầu của cuộc khởi nghĩa Lam Sơn, nhân dân các dân tộc ở miền núi Thanh Hóa đã đùm bọc nghĩa quân, cùng nghĩa quân chiến đấu giành thắng lợi lớn hoàn thành nhiệm vụ lịch sử. Nhưng hoạt động của nghĩa quân trong phạm vi hẹp nên chỉ dừng lại ở đây thì không có hậu phương lớn, khó có điều kiện tiến lên giải phóng đất nước. Sau trận Quan Du, nghĩa quân đã nống ra, lên phía Bắc nhưng qua trận Khôi Sách cho thấy không ổn: hao binh tổn tướng “quân không còn 1 lữ”. Bộ chỉ huy của nghĩa quân phải có tư duy mới táo bạo vượt ra khỏi một tầm nhìn. Trận đa căng thắng lợi là sự mở đường tiến vào phía Nam theo sáng kiến của Nguyễn Chích. Đây cũng là cuộc mở đường lớn để tiến từ Nam ra Bắc giải phóng đất nước khỏi ách lầm than khốn cùng của giặc Ngô. Lãnh tụ Lê Lợi lên ngôi vua, trị vì đất nước mở ra một trang sử mới cho dân tộc.

Cao Sơn Hải

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1