GMT+7
Trang chủ / Chuyên mục khác / 990 năm Danh xưng Thanh Hóa

Xứ Thanh: Một miền di sản văn hóa đặc sắc

Đăng lúc: 07/02/2019 09:00 (GMT+7)

- Thanh Hóa có 1.535 di tích lịch sử, văn hóa, danh lam thắng cảnh đã được thống kê, phân loại xếp hạng. Hiện toàn tỉnh có 4 di tích quốc gia đặc biệt (trong đó thành Nhà Hồ là Di sản Văn hóa Thế giới) và 145 di tích cấp quốc gia, 673 di tích được đăng ký bảo vệ cấp tỉnh. Năm 2018, niềm vui đến với nhân dân Thanh Hóa khi được Bộ VH,TT&DL công nhận thêm 2 di sản văn hóa phi vật thế cấp Quốc gia: Lễ hội đền Độc Cước, và nghề đúc đồng cổ truyền làng Trà Đông.

Nguồn lực đặc biệt cho phát triển du lịch

Thanh Hóa một miền đất hội tụ rất sớm nhiều lớp người, tộc người và chính họ đã tạo ra một kho tàng di sản văn hóa đồ sộ và đặc sắc. Đó là di sản văn hóa hết sức phong phú và đa dạng. Tạo nên diện mạo văn hóa xứ Thanh giàu giá trị lịch sử và mang đặc trưng sắc thái tộc người. Đây là nguồn lực đặc biệt phục vụ cho phát triển du lịch địa phương và đất nước.

Như một học giả người Pháp H.Lebreton đã nói về Thanh Hóa trong cuốn sách “Tỉnh Thanh Hóa/Thanh Hóa tươi đẹp” (La Province Thanh Hoa, xuất bản năm 1924) như sau: “...nơi có thiên nhiên đẹp nhất, cũng như giàu kỷ niệm lịch sử hay truyền thuyết nhất Đông Dương”. Nhận xét trên có thể hiểu và khẳng định, xứ Thanh là một vùng đất có thiên nhiên và nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, một vùng đất gắn liền với hành trình của lịch sử dân tộc, có kho tàng văn hóa dân gian giàu truyền thuyết bậc nhất ở khu vực Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia).

Là một tỉnh địa đầu, cửa ngõ của miền Trung. Do đặc thù về mặt địa lý, địa hình và sự đa dạng của các hệ sinh thái, Thanh Hóa trở thành một vùng đất mở, năng động, trung chuyển giữa các khu vực Đông - Tây, Nam - Bắc. Chính vì thế con người đã có mặt ở nơi đây từ rất sớm và cũng đã để lại nhiều dấu ấn thông qua các nền văn hóa từ thời đại đá cũ, đá mới, kim khí và phát triển liên tục đến ngày nay. Chúng ta có thể hồi cố lại “trí nhớ của dân tộc Việt Nam” thông qua các di chỉ, di tích văn hóa khảo cổ học tiêu biểu như Núi Đọ, Mái Đá Điều, hang Làng Tráng, Con  Moong, Đa Bút, Hoa Lộc... cho đến nền văn hóa Đông Sơn rực rỡ, khẳng định: Di sản khảo cổ học thuộc văn hóa Đông Sơn ở Thanh Hóa rất phong phú và đa dạng, phân bố khắp các vùng miền trong tỉnh, với gần một trăm di chỉ đã được điều tra khai quật là minh chứng sinh động về một vùng trung tâm quan trọng của dân tộc trong thời đại Hùng Vương dựng nước. Đây là một nền văn hóa - văn minh Việt cổ có sức sống mãnh liệt và lan tỏa khắp các vùng Đông Nam Á hải đảo và lục địa.

Thanh Hóa luôn giữ vị trí trọng yếu, vừa là “phên dậu, hậu phương, chiến trường” đồng hành và đóng góp cho đất nước nhiều triều đại vua, chúa; nhiều bậc hiền tài, anh hùng tuấn kiệt, danh nho, võ tướng cho quốc gia. Đây là tài sản, di sản đặc biệt có giá trị tạo nên bản lĩnh, bản sắc lịch sử - văn hóa truyền thống của xứ Thanh.

Với đường bờ biển dài 102km chạy suốt từ các huyện Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Sầm Sơn, Quảng Xương, Tĩnh Gia, sớm tạo cho Thanh Hóa một tiểu vùng văn hóa biển, một kho tài nguyên di sản văn hóa biển đảo đặc sắc. Văn hóa Hoa Lộc là chứng tích cho thấy, cư dân Hoa Lộc đã chinh phục biển cả từ rất sớm. Tiếp sau đó, đến thời kỳ Đông Sơn và các thời kỳ sau này các luồng cư dân không ngừng tràn xuống khai thác và chinh phục biển cả. Vùng duyên hải xứ Thanh còn là khu vực giữ vị trí quan trọng đặc biệt trong phát triển KT-XH, QP-AN, giữ gìn môi trường sinh thái và sự đa dạng sinh học; là vùng giàu tiềm năng, có nhiều thế mạnh về khai thác và chế biến thủy hải sản, phát triển nông nghiệp; các bãi biển đẹp chính là nguồn tài nguyên vô tận để phát triển du lịch; các cảng - cửa nước sâu là điều kiện thuận lợi để phát triển thương mại... bảo đảm sự ổn định và phát triển không chỉ riêng cho vùng mà còn cho cả tỉnh và khu vực Bắc miền Trung.

Trong đời sống văn hóa tinh thần, vùng duyên hải xứ Thanh còn là nơi lắng đọng những huyền thoại về thần Độc Cước, về Bà  Triều - tổ nghề dệt lưới săm, cùng với những đặc trưng về tín ngưỡng tôn giáo như tục thờ cúng Cá Ông, Tứ vị Thánh Nương... Ngoài ra còn có các lễ thức thờ cúng thủy thần còn bảo lưu ở hầu hết các làng xã ven biển. Song đặc sắc nhất trong đời sống văn hóa tinh thần của cư dân ven biển xứ Thanh vẫn là các lễ hội truyền thống. Tiêu biểu là lễ hội cầu Ngư (Hậu Lộc, Tĩnh Gia), lễ hội Mai An Tiêm (Nga Sơn), lễ hội đền Độc Cước (Sầm Sơn), lễ hội Quang Trung (Tĩnh Gia) và hàng chục lễ hội lớn nhỏ khác. Đây là những lễ hội truyền thống có ý nghĩa không chỉ trong đời sống tâm linh mà còn có giá trị cố kết cộng đồng, bảo tồn văn hóa, phát triển du lịch.

Thanh Hóa là một tỉnh lớn đất rộng người đông, học giả người Pháp H.Lebreton nhận xét: “Thanh Hóa không chỉ là một đơn vị hành chính bình thường: đấy là cả một xứ, cũng muôn hình muôn vẻ như xứ Bắc Kỳ mà còn là một hình ảnh của Bắc Kỳ thu nhỏ, có châu thổ trù phú và phì nhiêu, vùng Trung du cây cỏ bạt ngàn đồi lượn sóng, vùng cao với những khu rừng đại ngàn um tùm bao phủ”. Tuy vậy, khi nghiên cứu về Thanh Hóa, các nhà nghiên cứu mới chỉ tập trung nghiên cứu sâu về người Kinh, chưa có nhiều những nghiên cứu về các tộc người thiểu số một cách hệ thống. Thực tế, 6 tộc người thiểu số sinh tồn trong không gian rộng lớn chiếm tới 3/4 tổng diện tích đất tự nhiên của cả tỉnh. Đây là địa bàn có nhiều cảnh quan, danh lam thắng cảnh, thắng tích đẹp, nơi lưu giữ khối lượng di sản văn hóa tộc người đồ sộ. Tiêu biểu là di sản văn hóa phi vật thể. Cụ thể là tiếng nói và chữ viết, ngữ văn dân gian, nghệ thuật trình diễn dân gian, các phong tục tập quán, tín ngưỡng tôn giáo và lễ hội, tri thức bản địa... Bên cạnh đó là những giá trị di sản văn hóa vật thể, tiêu biểu là hệ thống các làng bản cổ của người Mường, người Thái nằm dọc bên đôi bờ sông Mã, sông Âm, sông Lò, sông Chu... ở khu vực này còn có các khu  bảo tồn thiên nhiên đặc sắc như vườn quốc gia Pù Luông (Bá Thước), Bến En (Như Thanh), Xuân Liên (Thường Xuân), khu vực Son Bá Mười (Bá Thước)... Các sản phẩm nghề thủ công truyền thống phong phú và đa dạng. Đây là các nguồn tài nguyên du lịch rất có giá trị cần được khai thác cũng như bảo tồn và phát triển.

Thanh Hóa hội tụ và tồn tại đầy đủ các giá trị lịch sử, văn hóa, các điều kiện tự nhiên để Thanh Hóa sớm trở thành một vùng miền di sản đặc sắc. Đó là nguồn lực, nguồn tài nguyên đặc biệt có giá trị để phát triển KT-XH, nhất là phục vụ trực tiếp phát triển ngành du lịch Thanh Hóa nói riêng và Việt Nam nói chung hiện nay.

PGS.TS Mai Văn Tùng

 

Vang mãi nghề đúc đồng Trà Đông

Làng Trà Đông, (xã Thiệu Trung - Thiệu Hóa), được nhiều người biết đến bởi nơi đây có nghề đúc đồng truyền thống. Đôi bàn tay tài hoa và sự sáng tạo của người dân ở đây đã đưa kỹ thuật đúc đồng đạt đến đỉnh cao mới. Cũng nhờ thế, trải qua hàng ngàn năm lịch sử, đến hôm nay, những lò đúc của làng Trà Đông vẫn luôn đỏ lửa, như là minh chứng cho sức sống trường tồn của di sản văn hóa này trong đời sống cộng đồng.

 đúc đồng Trà Đông (1).jpg

Lễ đón bằng công nhận nghề đúc đồng làng Trà Đông là di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.

Truyền thuyết kể lại rằng: Từ thời nhà Lý, dòng họ Vũ đưa nghề đúc đồng về cho làng Trà Đông nên ở làng còn có câu ca “Đất họ Lê - nghề họ Vũ”, cũng có thuyết lại cho rằng, nghề đúc đồng ở làng Trà Đông là do ông Khổng Minh Không truyền nghề. Đến thời Tự Đức (1848 - 1883) dân phường đúc đồng Trà Đông lập đền thờ thánh Khổng Minh Không, vị Tổ sư nghề đúc đồng ở nước ta.

Theo các nghệ nhân trong làng cho biết: Từ xưa đến nay sản phẩm của nghề đúc đồng rất được ưa chuộng đảm bảo độ bền, sáng bóng, mẫu mã đẹp và không bị “rỉ đồng”. Thợ đúc đồng Trà Đông được mời đi đúc ở nhiều nơi. Một số nơi khác đã tìm đến làng đúc đồng Trà Đông học tập kỹ thuật đúc. Năm 1971, các nghệ nhân làng Trà Đông đã đúc thành công pho tượng Bác Hồ (cao 1m50, nặng 600 kg đồng) đạt yêu cầu thẩm mỹ. Ngoài ra, thợ đúc đồng ở đây còn tham gia đúc thành công trống đồng Đông Sơn đúng theo kiểu dáng, hoa văn xưa... Đến nay, những nghệ nhân tâm huyết với nghề như Lê Văn Bảy, Lê Văn Dương, Nguyễn Bá Châu, Đặng Ích Hoàn... đã thực sự khiến làng Trà Đông "sống dậy" với những sản phẩm nổi tiếng cả nước. Với tình yêu và niềm đam mê, những người thợ đúc đồng làng Trà Đông đã mày mò, nghiên cứu, đúc thành công trống đồng bằng phương pháp thủ công truyền thống với nhiều kích cỡ khác nhau, được các nhà khoa học trong và ngoài nước đánh giá cao từ chiếc trống đồng có kích thước lớn nhất Việt Nam với đường kính mặt trống 1,51m, cao 1,21m năm 2007 đến chiếc trống đồng phiên bản Ngọc Lũ được xem là lớn nhất thế giới nặng khoảng 8 tấn, cao 2m, đường kính mặt trống 2,7m năm 2013. Đặc biệt, vào năm 2010, tập thể nghệ nhân làng nghề đúc đồng Trà Đông đã tham gia đúc 100 chiếc trống đồng để dâng lên Đại lễ 1.000 năm Thăng Long - Hà Nội...

Nói về cái khó để vừa giữ nghề, vừa đưa nghề phát triển nghệ nhân Lê Văn Bảy, người gắn bó với nghề hàng chục năm nay, cho biết: Kinh nghiệm trong nghề đúc đồng thường được truyền trong gia đình, không được truyền sang làng khác vì thế từ bao đời nay, chỉ làng Trà Đông là nơi duy nhất ở Thanh Hoá lưu giữ và phát huy nghề đúc đồng truyền thống. Nghề đúc đồng không chỉ đơn thuần là làm theo quy trình sẵn có mà điều quan trọng là phải thổi hồn vào từng sản phẩm nét văn hóa truyền thống. Để có được một sản phẩm đúc đồng đạt tiêu chuẩn cần phải trải qua quy trình kỹ thuật phức tạp bao gồm cách làm khuôn, pha chế hợp chất, nấu đồng, đúc sản phẩm, người thợ phải chú tâm, cẩn thận chau chuốt từng chi tiết. Trước sự cạnh tranh của các sản phẩm đúc đồng từ các làng nghề truyền thống của cả nước, muốn tồn tại được những người thợ làng Trà Đông xác định phải làm ra những sản phẩm đáp ứng những yêu cầu về chất lượng, giá cả và thị hiếu đa dạng của người tiêu dùng. Vì vậy, các nghệ nhân làng nghề đã không ngừng nghiên cứu đổi mới, đa dạng hóa kiểu dáng, mẫu mã, chủng loại. Sản phẩm không chỉ mang phong cách truyền thống mà còn thích ứng với nhu cầu thẩm mỹ hiện đại. Các cơ sở đúc đồng cũng liên kết, hỗ trợ nhau trong sản xuất và tiêu thụ sản phẩm để nghề đúc đồng Trà Đông mãi vang danh trong cả nước.

 đúc đồng Trà Đông.jpg

Các sản phẩm của làng đúc đồng Trà Đông rất phong phú, đa dạng.

Ông Trần Công Lạc - Chủ tịch UBND xã Thiệu Trung, cho biết: Hiện nay, trong xã có 132 hộ duy trì, phát triển nghề đúc đồng truyền thống, trong đó có 15 hộ theo nghề đúc đồng “có bài có bản”, tập trung chủ yếu ở làng Trà Đông. Ở Trà Đông, nhiều hộ gia đình đã có của ăn, của để, mở mang, phát triển nghề truyền thống của quê hương. Hàng năm, doanh thu của làng từ nghề đúc đồng lên tới hàng chục tỷ đồng. Trong đề án phát triển du lịch tỉnh Thanh Hóa, làng nghề Trà Đông được lựa chọn là 1 trong những điểm để phát triển loại hình du lịch làng nghề. Nghề đúc đồng cổ truyền của làng Trà Đông được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch công nhận và đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, tại Quyết định số 3325, ngày 4/9/2018.

Nghề đúc đồng Trà Đông không chỉ mang lại giá trị kinh tế mà còn có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc phát huy và bảo tồn bản sắc truyền thống của quê hương xứ Thanh nói riêng và nền văn hóa Việt nói chung.

Yến Vy

 

Lễ hội Cầu Phúc đền Độc Cước: Nét văn hóa truyền thống của cư dân vùng biển

Vốn mang trong mình nhiều giá trị văn hóa truyền thống từ rất lâu đời, lễ hội Cầu Phúc đền Độc Cước được cư dân biển Sầm Sơn tổ chức hàng năm nhằm tưởng nhớ công lao thần Độc Cước với phong tục cầu Thánh - Thần - Trời - Đất phù hộ cho quốc thịnh dân an, cầu cho nhân dân gặp nhiều thuận lợi trong lao động sản xuất, may mắn, bình yên trong cuộc sống.

 cầu phúc.jpg

Nhiều trò diễn độc đáo tại lễ hội Cầu Phúc đền Độc Cước.

Tương truyền, thần Độc Cước đã tự xẻ đôi thân mình, một nửa ra khơi dẹp loài thủy quái, một nửa đứng trên đầu núi Trường Lệ ngày đêm canh giữ, bảo vệ cuộc sống bình yên cho dân chài Sầm Sơn. Thần Độc Cước được các triều đại ban sắc phong "Thượng đẳng Phúc Thần". Di tích đền Độc Cước được xây dựng từ thế kỷ XIII, và được Bộ VH-TT (nay là Bộ VH,TT&DL) xếp hạng Di tích lịch sử văn hóa Quốc gia năm 1962.

Hàng năm, lễ hội Cầu Phúc đền Độc Cước diễn ra trong 3 ngày 14, 15 và 16/2 (âm lịch). Ngày hội chính diễn ra vào ngày 16/2 (âm lịch) và được tổ chức ngay dưới chân đền Độc Cước. Như thường lệ, sáng ngày 16/2, mở màn của lễ hội là đoàn rước kiệu của các phường diễn ra trong không khí trang nghiêm nhưng không kém phần sôi động. Sau đó, ban tế trong trang phục truyền thống tiến hành lễ tế và dâng lên thần Độc Cước những sản vật đặc biệt của địa phương. Tiếp đó, diễn ra lễ Cầu Phúc, lễ tế tôn ty - là những bài tế truyền thống đầy uy nghiêm, trang trọng biểu hiện tấm lòng thành kính đối với bậc tiền nhân, đồng thời thể hiện ước mong của người dân Sầm Sơn trong năm mới: "Bốn mùa xe ngựa dập dìu, khách hương trẩy hội/ Tám tiết tàu thuyền tấp nập, dân lưới cá chài tôm...".

Tiếp theo sau là phần hội với nhiều hoạt động văn hóa, thể dục thể thao sôi nổi, mang đậm nét văn hoá truyền thống của ngư dân vùng biển như: đi cà kheo, múa lân, kéo co, cờ người, đi xe đạp đôi vượt chướng ngại vật, đẩy gậy, vật tay,...

Anh Cao Văn Tâm, Giám đốc TTVH TP Sầm Sơn, cho biết: Trải qua bao đời nay, Lễ hội Cầu Phúc đền Độc Cước vẫn giữ trong mình tín ngưỡng dân gian, phong tục tập quán cùng mối quan hệ mật thiết với tín ngưỡng tâm linh. Tất cả những mối quan hệ ấy gắn bó chặt chẽ, hòa quyện, có tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình tồn tại cho đến ngày nay. Với ý nghĩa và những giá trị đóng góp to lớn về phương diện lịch sử, văn hóa và khoa học, lễ hội đền Độc Cước đã được Bộ VH,TT&DL đưa vào danh mục Di sản văn hóa phi vật thể Quốc gia, theo Quyết định số 3609 ngày 27/9/2018.

Lễ hội đền Độc Cước không chỉ là nguồn sử liệu quý giá, phong phú giúp các nhà nghiên cứu lịch sử có thêm cứ liệu về một nhân vật huyền thoại được sắc phong, ngưỡng mộ, tôn thờ. Đây còn là nơi tái hiện không gian văn hóa truyền thống của nhân dân vùng biển Sầm Sơn xưa và nay, cùng với các trò chơi hàm chứa tri thức dân gian luôn được lưu giữ, bảo tồn.

Nguyễn Đạt


0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1