GMT+7
Trang chủ / Chuyên mục khác / 990 năm Danh xưng Thanh Hóa

Xứ Thanh địa linh

Đăng lúc: 03/04/2019 15:00 (GMT+7)

- Trong lịch sử dựng nước và giữ nước thời nhà Lý, xứ Thanh luôn khẳng định vai trò, vị thế của vùng đất phên dậu. Đó không chỉ là sự đóng góp về nhân lực, vật lực mà còn cả ở sự phù trợ của các vị thần linh cho đoàn quân ra trận. Không quên ơn thần linh giúp đỡ, sau mỗi lần khải hoàn chiến thắng trở về, cùng với viêc sắc phong thì những ngôi đền linh thiêng thờ thần cũng theo lệnh nhà vua được nhân dân trong vùng khởi dựng, trở thành địa chỉ sinh hoạt tâm linh để người dân tỏ lòng ngưỡng vọng. Vấn vít trong đó là những truyền thuyết được dân gian lưu truyền với sức sống mãnh liệt hàng trăm năm qua.

Linh thiêng thần Đồng Cổ

Trải qua nghìn năm mưa nắng, cụm di tích núi Tam Thai và đền Đồng Cổ ở làng Đan Nê xã Yên Thọ (Yên Định) vẫn giữ đươc sự tĩnh lặng như vốn dĩ từ ngàn vạn năm qua: linh thiêng huyền bí. Núi Tam Thai hay còn có tên gọi là Khả Lao với ba ngọn (núi Xuân, núi Đổng, núi Nghễ) hình thành bởi bàn tay tạo hóa. Không ai biết, nơi đây là chốn ngự của vị thần linh. Cho đến ngày vua Hùng đi dẹp giặc Hồ Tôn, đêm xuống dừng nghỉ chân ở núi Khả Lao, nhà vua mộng thấy một vị thần tướng mạo khác thường từ trong núi hiện ra, trên tay với kiếm, kích, dùi đồng, trống đồng... xin được giúp nhà vua đánh giặc. Tỉnh mộng, nhà vua đã gấp rút chuẩn bị những binh khí như trong giấc mộng báo. Quả nhiên, trận chiến với giặc ngày hôm sau đang trong hồi gay cấn bất phân thắng bại thì trên không trung bỗng xuất hiện âm thanh của tiếng trống đồng, tiếng kiếm, kích khiến kẻ thù hoang mang cực độ, không đánh mà lui. Nhớ ơn thần mộng báo và giúp đỡ, vua Hùng đã phong thần là “Đồng Cổ đại vương”. Và dân gian tin rằng, huyền tích về thần Đồng Cổ có từ thời các vua Hùng.

 Núi Tam Thai.JPG

Núi Tam Thai.

Dân gian tin rằng, thần Đồng Cổ linh thiêng vẫn luôn dõi theo sự hưng suy của dân tộc. Và trong những thời khắc gian nguy thì thần sẽ hiển linh để mộng báo và giúp đỡ. Truyền thuyết về thần Đồng Cổ gắn liền với câu chuyện giúp vua Lý Thái Tổ đánh giặc Chiêm Thành và dẹp loạn tam vương. Khi vua Lý Thái Tổ lên ngôi, lập ra vương triều nhà Lý, đất nước gặp không ít khó khăn, giặc Chiêm Thành không ngừng quấy phá. Lúc này, thái tử Lý Phật Mã đã thân chinh dẫn quân về phương Nam để giữ yên bờ cõi. Trên đường hành quân, đêm xuống, quân lính đã dừng chân hạ trại trên bến Trường Châu (sông Mã) ở ngay chân núi Khả Lao. Trong giấc mộng chập chờn, thái tử Phật Mã đã nhìn thấy vị thần với tướng pháp khác thường, đến trước mặt tự xưng: “Tôi là thần núi Đồng Cổ, nghe tin Thái tử xuống đánh phương Nam, tôi xin theo để giúp phá giặc lập chút công nhỏ”. Sau đó, trên đường thắng trận trở về, thái tử Phật Mã đã dừng chân ở bến Trường Châu, vào đền làm lễ tạ ơn thần. Để hậu thế muôn đời ghi nhớ công ơn của vị thần núi Khả Lao, Thái tử còn xin rước linh vị thần về kinh đô Thăng Long lập đền phụng thờ để hộ quốc an dân.

Vua Lý Thái Tổ mất, thái tử Phật Mã lên ngôi, việc triều chính lại gặp không ít khó khăn khi các thế lưc trong triều cùng đấu đá tranh giành quyền lực. Giữa lúc ấy, vào một đêm nghỉ giấc vua Lý Thái Tông lại được thần Đồng Cổ mộng báo về “loạn tam vương” để nhà vua có sự đề phòng. Quả nhiên sau đó, việc mưu phản xảy ra như trong giấc mộng. Tin vào sự linh ứng của thần Đồng Cổ, vua Lý Thái Tông đã phong thần làm “Thiên hạ minh chủ, gia tước đại vương”. Đền thờ thần Đồng Cổ được các triều vua và nhân dân về sau hương khói kính thờ.

 Rước kiệu tại Lễ hội đền Đồng Cổ.JPG

Rước kiệu tại Lễ hội đền Đồng Cổ.

Ngày nay, cùng với di tích đền Đồng Cổ ở quận Tây Hồ (Hà Nội) cổ xưa thì tại làng Đan Nê xã Yên Thọ người dân xứ Thanh vẫn gìn giữ nguyên vẹn toàn bộ cảnh quan di tích: núi Tam Thai, bến Trường Châu, đền Đồng Cổ cùng với niềm tin vào sự bất tử của vị thần tối linh. Bên cạnh lễ hội đền Đồng Cổ diễn ra vào ngày 15/3 (âm lịch) hàng năm thu hút hàng vạn người dân trong và ngoài tỉnh về dâng hương hành lễ thì đền Đồng Cổ còn là địa chỉ tâm linh, để người dân và du khách gửi gắm niềm tin, sự phù trợ của thần.

Thần linh đất Cổ Đằng

Thời nhà Lý, bên cạnh việc củng cố bộ máy nhà nước phong kiến tập quyền ngoài kinh đô Thăng Long thì việc giữ yên bờ cõi, mở mang đất nước về phương Nam cũng nằm trong kế sách của các triều vua. Có lẽ bởi vậy mà ngày nay, ở nhiều địa phương, gắn liền với lịch sử của những di tích cổ xưa còn hiện hữu là truyền thuyết về các linh thần có công giúp vua đánh giặc. Và Hoằng Hóa xưa kia là huyện Cổ Đằng được xem là vùng đất “địa linh nhân kiệt”.

Về xã Hoằng Lộc, địa phương nổi danh với truyền thống khoa bảng trong lịch sử phong kiến, người ta còn lắng lòng trước câu chuyện về đất và người nơi đây. Dưới triều vua Lý Thái Tông, giặc Chiêm Thành vẫn không ngừng quấy phá hòng lấn chiếm bờ cõi. Trước thế giặc mạnh, nhà vua và thái tử đã thân chinh ra trận dẹp giặc. Trên đường hành quân, qua trang Bột Đà huyện Cổ Đằng ngày nay là xã Hoằng Lộc, nhận thấy địa thế bằng phẳng, giao thông thủy bộ đều thuận tiện nên nhà vua đã hạ lệnh dừng chân, dựng trại tại khu vực chợ Thiên Quan (nay là chợ Quăng) chiêu mộ binh sĩ, lấy thêm lương thảo. Đêm xuống, nhà vua nằm mộng thấy ánh hào quang tỏa sáng và thần linh hiển hiện ở ba phía thuộc trang Bột Đà. Tỉnh giấc, cho là mộng báo điềm lành, vua phán “Nơi đây đất thiêng ắt có người tài”. Bèn cho lập đàn lễ, đồng thời mở cuộc thi tài, tìm người giúp vua. Lúc bấy giờ, chàng trai Nguyễn Tuyên đã đến trước mặt nhà vua bái yết, trình bày kế sách phá giặc lưu loát, võ nghệ lại tinh thông. Vui mừng vì tìm được người tài giúp đỡ, nhà vua đã đặc phong đại tướng tiên phong bình Chiêm cho chàng trai trẻ Nguyễn Tuyên. Đồng thời, cho tuyển mộ thêm binh sĩ trong trang làm thuộc hạ, hợp cùng đại quân của nhà vua xuôi theo hướng Nam đại phá Chiêm Thành, bắt sống Chiêm chủ là Xạ Đẩu.

Thắng trận trở về, vua nhà Lý đã dừng chân ở trang Bột Đà để lễ tạ, phong thần, khao quân. Nhà vua cho hạ lập đền thờ thần linh tại ba nơi trong trang, ứng với ba vầng sáng trong giấc mộng báo và đặt tên: miếu Đệ Nhất; Đệ Nhị; Đệ Tam. Trải qua những năm bom đạn của chiến tranh, những ngôi miếu thờ thần linh ở xã Hoằng Lộc ngày nay tuy không còn. Dẫu vậy, người dân trong làng, đặc biệt là những cụ cao niên, mấy ai là không biết đến sự tồn tại của những ngôi miếu cổ.

 Bảng Môn Đình thờ thành hoàng làng tướng Nguyễn Tuyên là người có công giúp vua Lý Thái Tông đánh giặc Chiêm Thành.JPG

Bảng Môn Đình thờ thành hoàng làng tướng Nguyễn Tuyên là người có công giúp vua Lý Thái Tông đánh giặc Chiêm Thành.

Lại nói về tướng Nguyễn Tuyên, vì lập được công lớn, ông đã được nhà vua đặc cách cho ở lại quê nhà bái yết tổ tiên, vấn an cha mẹ sau đó mới trở về kinh. Tuy nhiên, khi ông ra đến khu vực chợ Thiên Quan thì mây đen nổi lên, chớp giật mưa tuôn, người ngựa cùng hóa thân tại chỗ. Đó là ngày 21 tháng Chạp năm 1037 và khi ấy, tướng Nguyễn Tuyên cũng mới tròn 21 tuổi. Thương tiếc cho sự ra đi đột ngột của vị tướng trẻ tài năng, nhà vua đã sắc phong “Thượng đẳng phúc thần đại vương”, hưởng chế độ quốc tế xuân thu nhị kỳ hàng năm. Ở các triều vua sau này, ông tiếp tục được sắc phong “Thượng đẳng đại vương linh thần”. Đồng thời, nhà vua cũng cấp tiền cho nhân dân địa phương lập đền thờ và đặt tên miếu Đệ Tứ ngay tại vị trí ông hóa. Ngày nay, ngôi miếu nhỏ nằm trong khuôn viên của Di tích lịch sử quốc gia Bảng Môn Đình vẫn được người dân giữ gìn nguyên vẹn “thượng sàng hạ mộ” (trên là bàn thờ, dưới là mộ phần), tướng Nguyễn Tuyên cũng đồng thời được nhân dân địa phương suy tôn là Thành hoàng làng, hương khói phụng thờ suốt bao năm qua.

Cùng với trang Bột Đà thì Phú Trừng trang - kẻ Đừng (nay là làng Phú Khê) thuộc huyện Cổ Đằng xưa kia cũng là nơi lưu dấu di tích và truyền thuyết về hai vị Thành hoàng làng họ Chu: Chu Minh và Chu Tuấn. Có một số tài liệu cho rằng, hai ông là tướng dưới trướng của vua Đinh Tiên Hoàng, có công giúp nhà vua dẹp loạn 12 sứ quân. Tuy vậy, theo truyền thuyết dân gian thì người địa phương vẫn kể lại với hậu thế: hai ông vốn là con trai của một gia đình hiếm muộn con ở phương Bắc. Vì thương mến cảnh đẹp ở đất phương Nam mà vợ chồng họ Chu đã tìm về vùng đất Kẻ Đừng, nơi có ngôi chùa Bảo Phúc để cầu tự. Quả nhiên sau đó, người vợ mang thai và sinh ra hai người con trai khôi ngô tuấn tú, thiên tư hơn người. Khi hai con khôn lớn, ba cha con họ Chu lại xuôi về phương Nam, tìm về chùa Bảo Phúc để tạ ơn thần phật. Chẳng may gặp cơn đại hồng thủy, xác hai anh em theo dòng nước trôi bồng bềnh như dáng đức Phật về trước khu vực chùa Bảo Phúc. Thương tiếc cho hai anh em họ Chu, nhân dân trong làng đã cùng nhau chôn cất, hương khói chu toàn.

Khi vua Lý đi dẹp giặc Ai Lao, qua Phú Trừng trang, nhà vua đã dừng chân để bổ sung quân lương. Đêm nằm nghỉ, vua đã được hai thiếu niên anh tuấn, mặt mũi khôi ngô tự xưng là anh em họ Chu, muốn giúp vua dẹp giặc. Quả nhiên, trong trận chiến với giặc sau đó, khi thế trận muôn phần cam go thì từ phía Phú Trừng trang bỗng nổi lên trận cuồng phong dữ dội khiến giặc hoảng loạn bỏ chạy. Thừa thắng, vua nhà Lý đã chỉ huy quân sĩ xông lên quét sạch giặc Ai Lao ra khỏi bờ cõi nước Đại Việt.

Nhớ ơn thần hiển linh giúp đỡ, về sau vua Lý đã ban thưởng cho làng để nhân dân hương khói phụng thờ thần. Trước ân điển nhà vua, người dân Phú Trừng trang sau đó đã khởi dựng ngôi đình Phú Khê và suy tôn hai anh em họ Chu là Thành hoàng làng, duy trì cúng tế hàng năm cho đến ngày hôm nay.

Trải qua thời gian, Bảng Môn Đình, đình Phú Khê ngày nay đều là những di tích quốc gia với những giá trị về lịch sử, kiến trúc. Và điều đặc biệt hơn, khi đây nổi danh với truyền thống khoa bảng, hiếu học, ở thời đại nào thì cũng đóng góp cho đất nước những anh hùng, danh sĩ kiệt xuất. Phải chăng, đó là vì địa linh sinh nhân kiệt!

Những truyền thuyết dân gian và di tích lịch sử, địa danh cứ vấn vít, lưu truyền hậu thế muôn đời. Để mỗi người dân xứ Thanh, nương theo đó mà tỏ niềm ngưỡng vọng, tự hào về vùng đất “Thanh Kỳ Khả Ái” vang vọng mãi ngàn đời.

Thu Trang

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1