GMT+7
Trang chủ / Chuyên mục khác / 990 năm Danh xưng Thanh Hóa

Vương triều Lý (1010 - 1225) và sự quan tâm của nhà Lý với vùng đất Châu Ái - Thanh Hóa

Đăng lúc: 06/04/2019 14:00 (GMT+7)

- Tháng 10 năm Kỷ Dậu (1009), vua Lê Long Đỉnh (tức Ngọa Triều) mất, nhà Tiền Lê như “rắn mất đầu”, cả triều đình rơi vào tình trạng hỗn loạn và khủng hoảng nghiêm trọng. Trước tình hình và thời cơ đó, Tri hậu Đào Cam Mộc (người Châu Ái - Thanh Hóa) đã cùng sư Vạn Hạnh và những người trung thành thống nhất suy tôn Lý Công Uẩn - một người tài, đức và có uy tín lúc bấy giờ lên ngôi Hoàng đế, mở ra vương triều Lý huy hoàng trong lịch sử dân tộc với thời gian tồn tại là 215 năm (1010 - 1225).

Sau khi lên ngôi, vua Lý Công Uẩn đã cho đại xá toàn thiên hạ và lấy năm 1010 làm niên hiệu Thuận Thiên năm thứ nhất, đồng thời còn cho thi hành ngay một loạt thay đổi về chính trị - xã hội rất tiến bộ. Để quản lý thống nhất quốc gia Đại Việt, nhà Lý đã cho đổi 10 đạo cũ ở thời Tiền Lê thành 24 lộ, riêng Châu Hoan, Châu Ái thì cho đổi thành “trại” (sau lại đổi làm trấn, làm phủ Thanh Hóa).

Do kinh đô từ Hoa Lư (Ninh Bình) chuyển ra Thăng Long, cho nên vùng đất Châu Ái - Thanh Hóa trở thành vùng đất biên viễn xa kinh thành của nước (vì vậy mà nhà Lý mới gọi là Thanh Hóa trại). Mặt dù xa trung tâm chính trị của quốc gia Đại Việt, nhưng trước đó Châu Ái - Thanh Hóa gọi là đất trọng yếu có vai trò to lớn trong quá trình chống Bắc thuộc để giành lại quyền độc lập, tự chủ cho dân tộc. Và đặc biệt là ở thế kỷ X - thế kỷ bản lề của sự phục hưng văn hóa dân tộc, đất và người Thanh Hóa chính là một tâm điểm để giúp các họ Khúc, Dương, Ngô, Đinh, Tiền Lê nối chí nhau viết lên những trang sử vàng đầy dấu ấn. Vì vậy, trong quá trình ra đời và tồn tại, nhà Lý đã có sự chú ý, quan tâm đặc biệt đến vùng đất xứ Thanh phên dậu.

Cũng do ảnh hưởng và quan hệ máu thịt với các nhà họ Khúc, Dương, Ngô,  Đinh, Tiền Lê trước đó mà khi nhà Lý ra đời, một số thủ lĩnh, hào trưởng, châu mục của Châu Ái - Thanh Hóa vẫn chưa chịu qui phục triều đình, thậm chí còn nổi dậy, chống đối để dành quyền tự quản. Trước tình hình ấy, 3 vị vua Lý là Lý Thái Tổ (1010 - 1028), Lý Thái Tông (1028-1054) và Lý Thánh Tông (1054 - 1072) đã phải trực tiếp cầm quân đi dẹp “loạn”. Sử cũ như Việt sử lược, hay Đại Việt sử ký toàn thư đã ghi chép rõ sự kiện các vua Lý vào dẹp loạn ở Châu Ái xứ Thanh như:

- Tháng 2 năm Tân Hợi (1011), Lý Thái Tổ đem đại binh đánh diệt được giặc Cử Long (nay thuộc Cẩm Thủy), bắt được thủ lĩnh đem về(1).

- Tháng 4 năm Kỷ Tỵ (1029), dân giáp Đan Nãi (nay là vùng Đan Nê, huyện Yên Định), Lý Thái Tông thân chinh, dẹp yên được(2).

- Tháng 9 năm Ất Hợi (1035), người Ái Châu làm phản, tháng 10, Lý Thái Tông thân chinh, trị tội châu mục Châu Ái(3).

- Tháng Giêng, Quý Mùi (1043), Châu Ái làm phản. Tháng 3, Lý Thái Tông sai Khai Hoàng Vương (tức vua Lý Thánh Tông sau đó) đi đánh, dẹp yên được(4).

- Năm Canh Dần (1050), giáp Long Trì ở Ngũ Huyện Giang thuộc Ái Châu làm phản(5)...

Nhờ sự trấn áp và bình định những cuộc chống đối, nổi dậy ấy của quân đội triều đình mà từ thời Lý Nhân Tông (1072 - 1128) trở đi, nhất là khi Lý Thường Kiệt được cử vào làm Tổng trấn Thanh Hóa (1082 - 1101) thì vùng đất này mới thực sự ổn định và gắn bó mật thiết với nhà nước quân chủ Trung ương tập quyền, góp phần làm cho quốc gia Đại Việt càng vững bền hơn.

Qua sự liệt kê các lần “dẹp loạn” ở vùng Châu Ái - xứ Thanh, ở thời điểm 3 triều vua Lý đầu tiên (là Lý Thái Tổ - Lý Thái Tông và Lý Thánh Tông, từ 1010 - 1072, tổng cộng là 62 năm), chúng ta thấy đều do vua, hoặc hoàng tử đích thân cầm quân đi đánh dẹp. Và sau mỗi lần đánh dẹp được lại rút quân về triều. Vì lẽ đó mà giáo sư Hoàng Xuân Hãn mới đi đến nhận định rằng: “Đất Thanh Hóa bấy giờ chỉ giao cho các châu mục giữ chứ không có đại quân đóng. Mỗi lúc hữu sự thì sai quân ở miền Bắc vào. Phải đợi đến năm 1082, Lý Nhân Tông mới đặt Thanh Hóa thành một trấn (còn trước đó gọi là “Trại” - P.T); có một đạo quân đóng luôn ở đó. Đạo quân ấy giao cho Lý Thường Kiệt. Ta có thể coi đất Thanh Hóa gần như một nước nhỏ, tự lập đối với triều đình. Lý Thường Kiệt tuy không có tước vương, nhưng là một thiên tử nghĩa đệ (em vua, P.T). Vậy ông được hoàn toàn tự do hành động trong trấn ông coi”(6).

Việc Lý Thường Kiệt được vua Lý Nhân Tông (1072 - 1128) cử vào trông coi Thanh Hóa đã được văn bia chùa Ngưỡng Sơn Linh Xứng ghi chép một cách rất rõ ràng cụ thể, và nhờ có ông mà trấn Thanh Hóa(7) mới có sự đổi thay nhanh chóng. Bia đó ghi: “Đầu năm Anh Vũ Chiêu Thống (1076 - 1084), Thái Úy (tức Lý Thường Kiệt, P.T) được phong làm em nuôi vua, trông nom mọi việc quân ở các châu thuộc trấn Thanh Hóa, quận Cửu Chân, Châu Ái và phong cho thái ấp một vạn hộ ở Việt Thường.

Thái úy trong thì sáng suốt khoan hòa, ngoài thì nhân từ giản dị. Đổi đời phong tục, nào có quản công. Làm việc thì kiệm cần, sau bảo dân thì vui vẻ, cho nên dân được nhờ cậy; khoan hòa giúp đỡ dân chúng, nhân từ yêu mến mọi người, cho nên người người kính trọng; dùng oai vũ để trừ bọn gian ác, đem minh chính để giải quyết ngục tụng, cho nên hình ngục không quá lạm; biết dân lấy cái ăn làm đầu, nước lấy nghề nông làm gốc, cho nên không để lỡ thời vụ; tài giỏi mà không dùng đến trách phạt, nuôi dưỡng đến người già nơi thôn dã, cho nên người già nhờ đó mà được an thân. Đạo trị như vậy có thể gọi là cái gốc trị nước, cái thuận yên dân, sự tốt đẹp đều ở đấy cả. Giúp rập chính sự cho ba triều, kiêm việc dẹp yên loạn ngoài biên tái, chỉ mấy năm mà tám phương yên lặng, công thật lớn lao”(8).

 Ngôi đền cổ thờ Thái úy Lý Thường Kiệt ở xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, Thanh Hóa..jpg

Ngôi đền cổ thờ Thái úy Lý Thường Kiệt ở xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung, Thanh Hóa.

Ngoài trọng trách chăm lo, giải quyết những việc đại sự ở trấn Thanh Hóa như văn bia đã nêu, Lý Thường Kiệt mặc dù “thân vướng việc đời” nhưng vẫn rất chú trọng đến việc phát triển Phật giáo trên vùng đất biên viễn này. Chính ông đã trực tiếp cho xây dựng chùa Linh Xứng ở núi Ngưỡng Sơn (nay thuộc xã Hà Ngọc, huyện Hà Trung) thành một trung tâm Phật giáo lớn để “khi thì sứ giả các nước Hoàn Bang, Chân Lạp từ xa tới mà quỳ gối ngắm xem; khi thì những kẻ nước lạ phương xa, quy phục mà cúi đầu dập trán. Cái nhà nát của kẻ trưởng giả quê mùa mà hóa thành Vương Xá (là kinh đô nước Ma Kiệt Đà - Ấn Độ thời Đức Phật khởi đầu, P.T)”(9).

Chính nhờ có sự cai quản trực tiếp của Tổng trấn Lý Thường Kiệt trong 19 năm liên tục (1082 - 1101) mà vùng đất Thanh Hóa mới thật sự yên ổn và đổi thay nhanh chóng. Qua tra cứu sử cũ, chúng ta thấy, từ đây trở đi, quân đội nhà Lý không hề có một cuộc dẹp loạn chống đối, nổi dậy nào trên đất Thanh Hóa. Điều đó chứng tỏ rằng nơi đây đã trở thành một vùng đất phên dậu vững chắc và rất đáng tin cậy của quốc gia Đại Việt.

Năm 1101, sau khi Lý Thường Kiệt được rút về triều đảm nhận trọng trách mới, triều đình nhà Lý vẫn tiếp tục cử những quan lại cao cấp tin cậy nhất vào cai quản Thanh Hóa như:

- Từ năm 1115 cho Chu Công - một người tài đức nổi tiếng khắp kinh thành vào quản lĩnh Thanh Hóa.

- Năm 1127, mùa xuân tháng Giêng, cho Ngự khố thư gia Phạm Tín làm phán sự phủ Thanh Hóa.

- Năm 1129, cho Nội thường thị Đỗ Nguyên Thiện vào làm Tham tri chính sự giữ phủ Thanh Hóa.

- Năm 1130, Ngự khố thư lang Lương Cải giữ phủ Thanh Hóa.

- Năm 1135, mùa xuân tháng Giêng, cho Ngự khố thư gia Dương Trưởng giữ phủ Thanh Hóa, v.v...

Ngoài các quan lại cao cấp thay nhau vào quản lĩnh và coi giữ đất Thanh Hóa, nhiều bậc đại sư và trí thức Nho học nổi tiếng cũng được triều đình cử vào để mở mang chùa chiền và đổi thay phong tục, dân trí, v.v... nơi đây như Trưởng lão Sùng Tín, Thiền sư Đạo Dung, Đạo Quang Trưởng lão, hoặc các sư Viên Giác, Minh Ngộ và Thái phó Lưu Khánh Đàm.

Như vậy, nhờ sự quan tâm chú ý của triều đình nhà Lý mà vùng đất trại xa kinh thành như Thanh Hóa đã trở thành một vùng đất ổn định, vững chắc, nhất là từ triều vua Lý Nhân Tông trở đi, ở đây không còn có cuộc nổi loạn, chống đối nào. Vì vậy, dân được yên ổn làm ăn, góp phần làm kinh tế - văn hóa phát triển nhanh chóng.

Từ khi Lý Thường Kiệt vào trấn giữ Thanh Hóa (từ 1082 - 1101) và đặc biệt là từ lúc Chu Công vào thay (1015) thì trung tâm trấn lỵ Thanh Hóa ở Duy Tinh (nay thuộc xã Văn Lộc, huyện Hậu Lộc) đã trở nên sầm uất và trở thành cửa ngõ qua lại của các nước lân bang, hoặc của các thương đoàn gần, xa đến để trao đổi và mua bán hàng hóa. Và suốt cả thời Lý - Trần, đây có thể được xem là một đô thị cổ trên vùng đất xứ Thanh với rất nhiều kiến trúc thành quách, đền đài, dinh thự và cảng sông tấp nập. Và từ đây, sự giao thoa văn hóa giữa xứ Thanh với Thăng Long kinh kỳ và các vùng miền gần, xa khác càng được tăng cường thuận lợi. Lúc này, thương cảng Lạch Trường vẫn được xem là một thương cảng lớn ở trong nước - nơi hẹn hò, gặp gỡ của các thương đoàn gần xa đến làm ăn, mua bán. Còn ở trong toàn địa bàn, ngoài trung tâm trấn lỵ Duy Tinh, các trung tâm kinh tế - xã hội khác như Kẻ Dàng, giáp Bối Lý (nay thuộc huyện Thiệu Hóa) và ấp Đại Lý (thuộc xã  Hà Ngọc, Hà Trung nay), v.v... cũng khá phát triển.

Cũng nhờ những chính sách khoan dung, phủ dụ tốt với các châu mục ở vùng miền núi phía Tây mà nhà Lý đã tạo dựng cho xứ Thanh thành vùng đất phên dậu vững mạnh, góp phần bảo vệ quốc gia Đại Việt một cách lâu dài trong hơn hai thế kỷ (1010 - 1028).

-----------

(1) Đại Việt sử ký toàn thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1998, tập I, tr.242.

(2) Toàn thư, Sđd, tập I, tr.253.

(3) Toàn thư, Sđd, tập I, tr.257.

(4) Toàn thư, Sđd, tập I, tr.263, 264.

(5) Việt sử lược, Nxb Thuận Hóa - Huế, 2005, tr.87

(6) Hoàng Xuân Hãn, tập II - trước tác, Nxb Giáo dục, HN, 1998, tr.479.

(7) Trấn Thanh Hóa: Ở sách “Thanh Hóa tỉnh chí”, Nhữ Bá Sĩ có giải thích về địa danh “trấn” ở thời Lý như sau: “Ở vùng đất phiên khổn (xa kinh thành, P.T) có hai cách gọi: khi nói về việc trị dân thì xưng là lộ, nếu để binh lính ở thì xưng là trấn,... Cho nên trấnlộ tuy đều gọi mà không phải là chỉ vào đất khác nhau. Gọi là phủ đời Lý, tức là lộ đời Trần, chế độ thì đều như nhau”. Với giải thích ấy thì ta có thể hiểu trấn, trại Thanh Hóa chỉ là cách gọi khác của lộ, phủ thời Lý - Trần vậy.

(8) Tuyển tập bia Thanh Hóa, tập I, Nxb Thanh Hóa, 2012, tr.268.

(9) Tuyển tập văn bia Thanh Hóa, Sđd, tr.270-271.

Phạm Tấn

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1