GMT+7
Trang chủ / Chuyên mục khác / 990 năm Danh xưng Thanh Hóa

Thần Đồng Cổ - vị Quốc thần của nước Đại Việt

Đăng lúc: 08/05/2019 09:00 (GMT+7)

- Thần Đồng Cổ (gốc Yên Định, xứ Thanh) là vị thần có từ thời Hùng Vương, có tiếng là rất linh thiêng.

 Đồng Cổ.JPG

Đền Đồng Cổ, xã Yên Thọ, huyện Yên Định.

Theo truyền thuyết và thần tích ở đền Đồng Cổ (ở Thanh Hóa cũng như ở Thăng Long - Hà Nội), vào thời Hùng Vương, vua Hùng đi dẹp giặc ở phía nam, đến thôn Khả Lao (thuộc xã Yên Thọ, huyện Yên Định nay), cho quân sĩ đóng chốt nghỉ ngơi ở chân núi Đồng Cổ. Ban đêm, thần núi báo mộng sẽ phù hộ để vua đánh thắng giặc. Vì vậy mà khi chiến thắng trở về, vua Hùng đã ban sắc cho thần là “Đại vương chủ minh thần”.

Ở thời Tiền Lê, vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đi đánh Chiêm Thành cũng từng dừng chân ở núi Đồng Cổ. Đại Việt sử ký toàn thư chép: “Thiên Phúc năm thứ 4 (983)... Khi vua đi đánh Chiêm Thành, qua núi Đồng Cổ đến sông Bà Hòa, đường núi hiểm trở khó đi, người ngựa mỏi mệt, đường biển thì sóng to khó đi lại, bèn sai người đào kênh. Đến đây làm xong, thuyền bè đi lại đều được thuận tiện”.

Như vậy, cho đến thời Tiền Lê và các thời sau đó nữa, Đồng Cổ chính là một địa điểm trọng yếu trên trục đường Bắc - Nam - nơi nối liền giữa đường thượng đạo từ phía Bắc vào với hệ thống kênh đào (từ Đồng Cổ đến Bà Hòa mà Lê Hoàn cho đào). Vì vậy mà đến thời Lý, mỗi lần đi dẹp loạn và bình Chiêm ở phía Nam, nhà vua và quân triều đình đều có dừng ở núi Đồng Cổ để nghỉ ngơi và củng cố lực lượng trước khi hành quân tiếp.

Trong nghìn năm phong kiến, Đồng Cổ không chỉ là nơi đầu mối giao thông thủy - bộ mà còn được mệnh danh là một thắng tích nổi tiếng ở trong nước.

Sách Đại Nam nhất thống chí (biên soạn đời Thành Thái) đã ghi chép khá rõ về núi Đồng Cổ như: “Đồng Cổ san (núi Trống Đồng) ở xã Đa Nê (tức Đan Nê, TG). Cũng có tên gọi là núi Khả Lao. Có 3 ngọn đứng sững, cao thấp liên lạc, như hình 3 ngôi sao, nên lại có tên gọi là Tam Đài (Thai) san. Bên tả có một đền thờ (tức đền thờ thần Trống Đồng, TG). Nơi lưng chừng núi có chùa tên là Thanh Nguyên tự, phía trên có Triều Thiên quán (quán chầu Trời), cúi nom xuống dòng sông Mã, hiện nay di tích vẫn còn. Phía sau đền thờ có bến đò cổ, dân cư buôn bán khá đông. Cổ nhân nói núi Tam Thai có 10 cảnh là: Xuân san tiên động (Động tiên non xuân); Ngực lĩnh vân nham (Chòm mây núi thắm); Cổ miếu lâu đài (Lâu đài miếu cổ); Phạm lâm chung cổ (Chuông trống rừng thuyền); San lộc nguyệt trì (Hồ trăng bên núi); Thôn tiền cổ độ (Bến cổ trước làng); Hoành giang mục phố (Vũng nghé ngang sông); Cách ngạn ngư châu (Thuyền chài cách bến); Thướng há thương phàm (Mành buồm cao thấp); Hiểu tịch thôn thị (Chợ xóm sớm chiều).

Đó cũng là một đô hội trong vùng Ái Châu vậy. Trong đền thờ nơi đây có cái trống bằng đồng, nên lấy tên Trống Đồng đặt cho tên núi”.

Về ngôi đền ở núi Đồng Cổ, sách này cũng ghi chép một cách tận tường, gốc tích như: “Đồng Cổ thần từ (Đền thờ thần trống đồng): Ở trên núi xã Đan Nê, thuộc huyện Yên Định (có tên gọi là núi Khả Lao). Ngày xưa vua Hùng Vương đi đánh giặc Chiêm Thành, đóng quân ở núi Khả Lao, đêm thấy thần báo mộng, bảo vua rằng: “xin có cái trống đồng và dùi đồng giúp nhà vua thắng trận phen này”. Đến lúc ra trận, thì thấy trên không, văng vẳng có tiếng trống đồng, rồi quả nhiên vua được toàn thắng. Vua bèn sắc phong làm Đồng Cổ Đại Vương. Đời vua Thái Tôn nhà Lý, khi còn làm Thái tử (1020), vâng mạng đi đánh Chiêm Thành, đêm mơ thấy một người mình mặc áo nhung, tay cầm bảo kiếm, tâu rằng: “Tôi là thần núi Đồng Cổ xin theo để lập công cùng Thái tử”. Tới khi bình được giặc, liền lập miếu để thờ. Sau khi Thái tử lên ngôi, lại mộng thấy thần mang bài thơ đến báo cho biết có ba vị vương định gây sự biến, sau quả nhiên hiện có thực. Nhân thế, liền phong làm chức Thiên Hạ Minh Chủ, thăng lên làm Thượng đẳng thần và hàng năm bắt đắp đàn ở trước cửa đền, sai các quan đến lễ và đọc lời tuyên thệ như sau: “Đạo làm tôi con cốt ở cương thường. Làm con bất hiếu, làm tôi bất trung, Thần minh ngầm xét, tiêu diệt cả nhà”. Khoảng đầu nhà Lê Trung Hưng (1561), quân Mạc xâm nhiễu các huyện Vĩnh Ninh (là Vĩnh Lộc ngày nay), An Định, thuyền quân của nhà Lê đóng ở phía thượng lưu sông Mã, đương đêm vẳng nghe có 3 tiếng trống ở ngoài 100 dặm, tướng nhà Lê liền sai người trinh sát mới biết là tiếng trống do tự núi Khả Lao phát ra. Đến sáng hôm sau, quân Lê theo đánh quân Mạc, trong khi giao chiến, bỗng có nước trào dâng lên rất mạnh, quân nhà Lê bèn thừa thế dong buồm thẳng tiến, khí thế hăng hái bội phần, làm cho quân Mạc phải thua bỏ chạy. Khoảng năm Hoàng Định (đời Lê Kính Tôn, 1600), trong tờ sắc phong sơn thần có câu: “Trên sông sóng gió, giúp cho trận thắng của tam quân” tức là truyện này vậy. Khoảng năm Cảnh Hưng (đời Lê Hiển Tôn, 1740), thường thấy có cái tàn vàng hiện ngay trên quán Triều Thiên, suốt trong ba ngày mới tan. Lại có một hôm gần buổi chiều tối, trong miếu bỗng có mây đen tụ tập khắp tứ phía, rồi mưa gió nổi lên đùng đùng, có người ở đằng xa nom lại thì thấy có con rồng đen từ trên giời quanh co lượn xuống; đến sáng sớm mai ra xem ngoài miếu thì có vẩy rồng vẫn còn rải rác ở trên sân miếu. Đó đều là những linh tích hiển nhiên nhiều người cùng biết. Trải qua các đời Lý và Lê, mỗi khi vào khoảng đầu năm xuất quân, các tướng sĩ hội thề thì lại rước thần để chứng giám cuộc lễ...

...Trong đền có một cái trống đồng, nặng ước 100kg, đường kính hơn 1 thước, 5 tấc, cao hơn 2 thước, trong rỗng không có đáy, bên tai hơi khuyết, trên mặt có 9 vòng khuyên, lưng thắt mà rốn kín, bốn bên có giây khắc chữ thập ngoặc, có văn như lối chữ Khoa - Đẩu nhưng lâu ngày không thể trông thấy rõ. Tương truyền khi Tây Sơn vào đánh miền đó, cho chở cái trống ấy về thành Phú Xuân. Sau đó người huyện Hậu Lộc lại bắt được ở nơi bến sông, rồi báo về tỉnh, bắt đem nộp trả về đền. Hiện nay vẫn còn tại đó”...

Việc thần Đồng Cổ (có nguồn gốc Châu Ái, xứ Thanh) được nhà Lý (mà cụ thể là vua Lý Thái Tông) phong làm quốc thần và cho dựng miếu thờ ở kinh thành Thăng Long đã được sách Đại Việt sử ký toàn thư - bộ quốc sử của nhà Hậu Lê ghi chép một cách rất cụ thể, rõ ràng như:

“Ngày Kỷ Hợi, Thái tử Phật Mã lên ngôi trước linh cửu (Linh cửu Lý Thái Tổ, TG). Tôn mẹ là Lê Thị làm Linh Hiển Thái hậu. Đại xá thiên hạ. Đổi niên hiệu là Thiên Thành năm thứ nhất (1028)... Vua nhân việc mới lên ngôi xuống chiếu cho lấy tiền lụa ở kho lớn ban cho thiên hạ (ngày 15 Canh Thân)... phong tước vương cho thần núi Đồng Cổ, dựng miếu để tuế thời cúng tế và làm lễ thề. Trước đây, một hôm trước khi ba vương làm phản, vua chiêm bao thấy một người tự xưng là thần núi Đồng Cổ nói với vua về việc ba vương Vũ Đức, Đông Chinh, Dực Thánh làm loạn, phải mau đem quân dẹp ngay. Tỉnh dậy liền sai phòng bị, quả nhiên ứng nghiệm. Đến đây xuống chiếu giao cho Hữu ty dựng miếu ở bên hữu thành Đại La sau chùa Thánh Thọ, lấy ngày 25 tháng ấy (tức tháng 3 âm lịch, TG), đắp đàn ở trong miếu, cắm cờ xí, chỉnh đốn đội ngũ, treo gươm giáo ở trước thần vị, đọc lời thề rằng: “Làm cho bất hiếu, làm tôi bất trung, xin thần minh giết chết”. Các quan từ của đông đi vào, đến trước thần vị cùng uống máu ăn thề, hàng năm lấy làm lệ thường. Sau vì tháng 3 có ngày quốc kỵ, chuyển sang mùng 4 tháng 4”.

Rõ ràng việc phong tước vương cho Thần núi Đồng Cổ (vị thần gốc xứ Thanh có từ thời Hùng Vương) và cho xây dựng đền Đồng Cổ ở kinh thành Thăng Long - một ngôi đền quốc tế để tổ chức hội thề hàng năm với mục đích đề cao chữ “Hiếu” và chữ “Trung”, Lý Thái Tông - vị vua kế nghiệp Lý Thái Tổ đã rất thành công trong việc tái lập trật tự cung đình và xã hội sau loạn ba vương. Và nhất là khi trong nước, vẫn còn một số vùng đất như Trường Yên, hay Châu Hoan, Châu Ái,... vẫn còn tình trạng nổi loạn, chống đối với chưa thật sự quy phục triều đình thì việc dùng hình thức tâm linh như đã nói ở trên của vua Lý Thái Tông chính là một biện pháp chính trị cần thiết góp phần làm quốc thái, dân an. Và từ đây, thần Đồng Cổ đã trở thành vị quốc thần số một của quốc gia Đại Việt được triều đình nhà Lý coi như thần bản mệnh rất linh thiêng được thờ phụng với nghi thức trang trọng nhất so với việc thờ phụng các thần linh lúc bấy giờ.

Nhà Trần sau khi được thiết lập, vẫn thờ thần Đồng Cổ như dưới triều Lý. Sách Đại Việt sử ký toàn thư đã chép rõ về sự việc này: “Đinh Hợi (Kiến Trung) năm thứ 3 (1227)... Tuyên bố các điều khoản lễ minh thệ, theo như lệ cũ của triều Lý và bắt đầu định việc thực hiện. Nghi thức lễ đó như sau:

Hàng năm vào ngày mùng 4 tháng 4, tể tướng và trăm quan đến trực ngoài cửa thành từ lúc gà gáy, tờ mờ sáng thì tiến vào triều. Vua ngự ở cửa Hữu Lang điện Đại Minh, trăm quan mặc nhung phục lạy hai lạy rồi lui ra. Ai nấy đều thành đội ngũ, nghi trượng theo hầu ra cửa Tây thành, đến đền thờ thần núi Đồng Cổ, họp nhau lại uống máu ăn thề. Quan Trung thử kiểm chính tuyên đọc lời thề rằng: “Làm tôi tận trung, làm quan trong sạch, ai trái thề này, thần minh giết chết”. Đọc xong tể tướng sai đóng cửa điểm danh, người vắng mặt phải phạt 5 quan tiền. Ngày hôm ấy, trai gái bốn phương đứng chật ních bên đường để xem như ngày hội lớn”.

 Đồng Cổ (1).JPG

Rước trống đồng tại đền Đồng Cổ.

Có thể nói, cho đến hôm nay, dẫu đã đi qua nhiều thế kỷ, song lời thề ở đền Đồng Cổ (Thăng Long) của tất cả vua, quan dưới triều Lý và triều Trần vẫn còn nguyên giá trị và tính thời sự sâu sắc của nó. Và giờ đây, trong ngày lễ hội chính ở đền Đồng Cổ (cả ở xứ Thanh và Thăng Long), tất cả mọi cán bộ, đảng viên và nhân dân hãy noi gương truyền thống dân tộc để thề “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, khó khăn nào cũng vượt qua, kẻ thù nào cũng đánh thắng” thì ý nghĩa biết bao...

Sau sự kiện cho lập miếu thờ thần núi Đồng Cổ (gốc xứ Thanh) vào ngày 25 tháng 3 năm Mậu Thìn và tổ chức lễ uống máu ăn thề tại miếu thờ vào ngày mùng 4 tháng 4 âm lịch, vua Lý Thái Tông đã cho tiến hành cải cách quân đội và ban phong chức tước cho một loạt tướng lĩnh, công thần có công trong việc dẹp loạn ba vương, đồng thời đích thân đưa quân đi dẹp loạn ở một số nơi.

Có lẽ, sau các cuộc dẹp loạn này, với mục đích cầu mong cho quốc thái dân an và các vùng đất xa kinh thành đều thuần phục, yên ổn, mà trong năm 1029, vua Lý Thái Tông còn cho đổi tên vùng đất Ái Châu trại thành đạo Thanh Hóa và Hoan Châu thành Nghệ An,...

Đối chiếu sự ghi chép của sử cũ thì cũng từ lúc được đổi tên “Châu Ái” thành “Thanh Hóa”, nhờ có sự quan tâm chú ý của triều đình nhà Lý và sự vận động tại chỗ của bộ máy hành chính mà từ đây vùng đất “phiên khổn” xa kinh thành không yên ổn này trở thành một vùng đất phên dậu và chỗ dựa đáng tin cậy của quốc gia Đại Việt.

Phạm Tấn

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1