GMT+7
Trang chủ / Chuyên mục khác / 990 năm Danh xưng Thanh Hóa

Dấu tích thời Lý trên đất Thanh Hóa qua những cổ vật

Đăng lúc: 05/03/2019 14:00 (GMT+7)

- Cùng với những di tích có lịch sử ra đời gắn liền với vương triều Lý, hàng trăm hiện vật đang được lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa là bằng chứng sinh động khẳng định cho sự phát triển của đời sống sinh hoạt, văn hóa tinh thần, tôn giáo tín ngưỡng... của người dân xứ Thanh thời bấy giờ.

Vua Lý Thái Tổ sau khi lên ngôi với những quyết sách trị vì đúng đắn không chỉ đưa đất nước ra khỏi khó khăn từ cuối thời Tiền Lê mà với tầm nhìn của bậc đế vương đã tạo nên cuộc dời đô vĩ đại từ kinh đô Hoa Lư ra đất Thăng Long (Hà Nội) năm 1010. Khi kinh đô nhà Lý được dời về đất Thăng Long cũng đồng nghĩa với việc vùng đất phên dậu phía Nam là Thanh Hóa lúc bấy giờ trở thành nơi xa xôi với trung tâm kinh đô.

Mặc dù, xứ Thanh đã đóng góp cho triều đình không ít danh tướng được sử sách lưu danh như: Đào Cam Mộc; Lê Phụng Hiểu; Nguyễn Tuyên... Cùng với đó, vì là đất “phên dậu” nên triều đình phong kiến cũng không thể không dành sự quan tâm đặc biệt cho “trại Châu Ái”. Đó là khi năm 1029, thời vua Lý Thánh Tông trại Châu Ái được đổi thành “phủ Thanh Hóa”, chính thức trở thành đơn vị hành chính trực thuộc Trung ương, có mối liên hệ gắn bó chặt chẽ với nhà nước quân chủ phong kiến, cùng với nhà Lý xây dựng nên kỷ nguyên Đại Việt huy hoàng.

Song song với việc dùng người địa phương để thiết lập chế độ cai quản thì để tăng cường, đảm bảo cho sự yên bình của phủ Thanh Hóa, vua nhà Lý còn đặc phái cử đại thần thân tín vào đây trông giữ. Đánh dấu bằng việc cử Thái úy Lý Thường Kiệt làm trấn thủ Thanh Hóa từ năm (1081 - 1101); rồi Chu Công; Phạm Tín...

 một số hiện vật gốm sứ và đất nung tại bảo tàng.JPG

Một số hiện vật đất nung, gốm, sứ thời Lý tại Bảo tàng tỉnh.

Ghé thăm Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, vào phòng trưng bày hiện vật từ thế kỷ 10 - 19, không khó để ta nhìn ra những hiện vật bằng đất nung được lưu giữ tại đây. Trước hết, phải kể đến hiện vật điêu khắc “đầu tượng phật, thân tượng phật” bằng đất nung thời Lý được tìm thấy trong quá trình khai quật tại chùa Linh Xứng nằm trên địa bàn xã Hà Ngọc (Hà Trung); hay những vật liệu kiến trúc như “ngói hình mặt hề (quỷ), máng nước đầu rồng, gạch trang trí bể cá cảnh; tượng cá hóa long” được sưu tầm tại ngôi cổ tự Sùng Nghiêm Diên Thánh xã Văn Lộc (Hậu Lộc)... tất cả đều bằng chất liệu đất nung được làm tinh xảo, sống động, thể hiện sự tài hoa của đôi bàn tay nghệ nhân xưa. Điều đáng nói, không phải ngẫu nhiên mà những hiện vật đất nung thời Lý cổ xưa nói trên hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh hầu hết đều được tìm thấy tại các di tích chùa cổ.

Đạo Phật được xem là quốc giáo ở thời Lý. Bởi vậy, khi vào Thanh Hóa làm Trấn thủ, Thái úy Lý Thường Kiệt đã chủ trương cho xây dựng ngôi chùa Linh Xứng trên núi Ngưỡng Sơn, xã Ngọ Xá, nay là xã Hà Ngọc. Di tích được xem là ngôi cổ tự được xây dựng sớm nhất trên đất Thanh Hóa với mong muốn giáo dục sự từ bi trong đời sống dân chúng để con người, xã hội nhân từ và đẹp đẽ. Đạo đức và từ bi không làm cho dân nghèo nước yếu, mà ngược lại, sẽ tạo nên sự giàu mạnh của dân tộc. Trải qua thời gian dài tồn tại, chùa cổ Linh Xứng ngày nay phần nhiều chỉ còn vết tích với những hiện vật được sưu tầm, tìm thấy. Tuy vậy, dù khá ít ỏi nhưng cũng phần nào khẳng định cho sự hiện diện và phát triển của một di tích phật giáo - cơ sở sinh hoạt đạo phật đầu tiên của người dân Thanh Hóa thời bấy giờ.

Tiếp sau chùa Linh Xứng, chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh ra đời gắn liền với sự kiện vua Lý Nhân Tông đi tuần phương nam (1116), dừng chân ở vùng đất Thanh Hóa. Nhân dịp này, Tri phủ Thanh Hóa lúc bấy giờ là Chu Công đã cùng với thuộc cấp, nhân dân dựng lại một ngôi chùa mới trên nền một cổ tự đã đổ nát từ trước với mong muốn báo ơn vua, cầu cho quốc thái dân an và cũng là nơi để nhân dân đến đây tu tập, gieo lòng từ bi, bác ái. Chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh được xây dựng sau với quy mô rộng, kiến trúc cầu kì, tinh xảo rõ nét. Điều đó được minh chứng qua những hiện vật tại bảo tàng. Điều đặc biệt, dù vẫn là chất liệu đất nung, song bên cạnh những tượng Phật thì việc xây dựng tại chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh đã chú ý tới yếu tố kiến trúc trang trí, phong thủy (tượng cá hóa long; máng nước đầu rồng...). Dù chỉ là chi tiết nhỏ song đã phần nào khẳng định cho sự phát triển trong quan niệm, tư duy, kỹ thuật của người xưa.

Bên cạnh những hiện vật gắn liền với sự ra đời và phát triển của Phật giáo trên đất Thanh Hóa thì tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa còn là những hiện vật giá trị, khẳng định cho sự đa dạng trong đời sống sinh hoạt hàng ngày của người dân thời bấy giờ. Vẫn từ nguyên liệu đất, nhưng với “bát gốm, bình sành” hoa văn trang trí giản tiện, phù hợp và hữu dụng với đời sống của cư dân nông nghiệp.

 Tiêu bản Ấm đồng thời Lý tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa.jpg

Tiêu bản Ấm đồng thời Lý tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa.

Không ít nhà nghiên cứu lịch sử cho rằng, năm 1084, vua Lý Nhân Tông xuống chiếu cho cả nước nung ngói để lợp nhà đã tạo nên bước tiến dài cho sự thay đổi của nghề gốm trên đất Thanh Hóa. Đây được xem là cơ hội để trung tâm gốm Tam Thọ (ngày nay là xã Đông Vinh) hình thành từ thời Bắc thuộc phát triển trở lại với những sản phẩm đa dạng cả về mẫu mã và chất lượng. Điều này được hiển hiện rõ qua những sưu tập gốm, sứ men ngọc, men trắng ngà tại Bảo tàng tỉnh như: “ấm, chum, hộp phấn, lọ, bình vôi, bát, đĩa, âu...” vô cùng tiện lợi, phục vụ cho đời sống sinh hoạt người dân. Nhưng hơn cả, những hiện vật gốm sứ nói trên còn là sự khẳng định chắc chắn cho sự phát triển của nghề cũng như kỹ thuật gốm, sứ men ngọc ở Thanh Hóa. Nếu so với những hiện vật “đất nung” trước đó thì rõ ràng sự phát triển vượt bậc là điều thấy rõ.

Bên cạnh hiện vật gốm sứ thì một số hiện vật được xác định có niên đại thời Lý hiện đang lưu giữ tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa cũng được xem là cứ liệu mở để các nhà khoa học tiếp tục tìm hiểu, nghiên cứu về sự phát triển kinh tế - xã hội, đời sống văn hóa tinh thần của người dân Thanh Hóa thời nhà Lý. Đó là chiếc ấm đồng lớn ở thế kỷ 11-12. Hiện vật được đánh giá là tác phẩm nghệ thuật đẹp và lạ. Hoa văn trang trí trên ấm mang đậm nét đặc trưng thời Lý với hoa văn cúc dây mềm mại, văn thủy ba... kết hợp hoa văn truyền thống chữ S nằm ngang, vòng tròn tiếp tuyến của thời kỳ văn hóa Đông Sơn. Ngoài Bảo tàng Hà Nội thì hiện vật ấm đồng kể trên được xem là tiêu bản thứ hai. Được biết, hiện vật ấm đồng thời Lý được tìm thấy năm 1984 tại khu vực núi Kim Âu xã Hà Đông (Hà Trung). Bên cạnh đó, còn có “trống Bình Yên”, được phát hiện trong lòng đất năm 2002 tại thôn Bình Yên, xã Cẩm Bình (Cẩm Thủy) với mặt hoa văn lục lăng, hình rồng, vòng tròn, vân mây, bốn khối tượng rùa quay cùng chiều kim đồng hồ, tang trống được trang trí hoa văn cánh sen... Qua thời gian dài, những hoa văn hiện hữu trên hiện vật vẫn vô cùng sống động, sắc nét, mang đến xúc cảm cho hậu thế mỗi khi ngắm nhìn. Cùng với đó là sự ngưỡng vọng, trân quý cho sự tài hoa của người nghệ nhân xưa. Đời người dù có thể chỉ là hữu hạn với thời gian vô hạn, nhưng những giá trị mà con người tạo ra thì còn mãi trường tồn.

Tại Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, bên cạnh những hiện vật mang trong mình “dấu ấn thời gian” còn có những hình ảnh di tích mà lịch sử ra đời gắn liền với niên đại vương triều Lý. Tất cả đều mang trong đó sức gợi về thời gian, lịch sử và những câu chuyện về triều đại. Để hậu thế theo đó mà ngưỡng vọng.

Ông Trịnh Đình Dương - Giám đốc Bảo tàng tỉnh Thanh Hóa, cho biết: Hiện vật mang dấu ấn thời Lý tại bảo tàng bao gồm: nhóm hiện vật, mảng trang trí kiến trúc Phật giáo (đầu rồng; gạch ngói...); gia dụng (bát, đĩa, chum, ấm, chén...) và những tư liệu lịch sử thời Lý như đền, chùa (đền thờ Lê Phụng Hiểu; Đào Cam Mộc; chùa Sùng Nghiêm Diên Thánh; Linh Xứng). Những hiện vật, cứ liệu lịch sử được lưu giữ tại Bảo tàng Thanh Hóa không chỉ giúp người làm khoa học nghiên cứu, tìm hiểu. Đây còn là nơi tham quan hấp dẫn cho đông đảo người dân xứ Thanh và bạn bè muốn tìm hiểu về sự phát triển của vùng đất Thanh Hóa trong chiều dài lịch sử ngàn vạn năm nói chung và dấu ấn vương triều Lý trên đất Thanh Hóa nói riêng.

Thu Trang

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1