GMT+7
Trang chủ / Chuyên mục khác / 990 năm Danh xưng Thanh Hóa

Đào Cam Mộc - Một danh nhân tiêu biểu

Đăng lúc: 02/04/2019 08:00 (GMT+7)

- Về quê hương Đào Cam Mộc, sử sách cũ không hề ghi chép. Nhưng trong quá trình nghiên cứu, sưu tầm tài liệu lịch sử, Địa chí huyện Yên Định, nhân vật lịch sử tiêu biểu của dân tộc hồi cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI, Đào Cam Mộc đã được xác định rõ ràng, chính xác về nguồn gốc quê hương là ở huyện Yên Định với quê nội ở thôn Tràng Lang (nay thuộc xã Định Tiến) và quê ngoại là ở thôn Nam Thạch (hay còn gọi là thôn Nam Trịnh, nay thuộc xã Yên Trung).

 Dao_Cam_Moc.jpg

Tượng danh nhân Đào Cam Mộc.

Theo truyền thuyết, sau khi bố mất, Đào Cam Mộc đã cùng mẹ từ biệt quê nội (Tràng Lang) để về quê ngoại (Nam Thạch) sống. Và tại quê ngoại, Đào Cam Mộc đã có một cuộc đời tuổi thơ đầy dấu ấn, kỷ niệm. Vào tuổi tráng niên, Đào Cam Mộc đã rất nổi tiếng về chí thông minh và sức khoẻ hơn người. Tương truyền, khi vua Lê Đại Hành tuần du về Thanh Hoá, thuyền rồng bị mắc cạn ở đoạn sông Mã qua Nam Thạch (mà bây giờ gọi là Cựu Mã Giang), thấy quân lính loay hoay mãi mà không khắc phục được, chàng thanh niên họ Đào đã tự nguyện dùng mưu trí, sức khoẻ giúp đoàn thuyền của nhà vua vượt qua được chỗ mắc cạn trước sự ngạc nhiên, thán phục của mọi người. Vì vậy, mà Đào Cam Mộc được Lê Hoàn vời ra giúp nước. Và dưới triều Tiền Lê (980 - 1009), từ thân phận bình dân, Đào Cam Mộc đã từng bước được tin dùng và vươn tới chức Chi hậu - một chức quan có thế lực dưới triều Tiền Lê.

Sau khi Lê Hoàn mất (1005), Lê Long Đĩnh (hay còn là Lê Ngọa Triều) lên nối ngôi đã làm cho triều đình nhà Tiền Lê lung lay, nghiêng ngả đến tột độ. Trước tình hình như vậy, với sự thức thời của mình Đào Cam Mộc đã chủ động phối hợp với sư Vạn Hạnh cùng những người thân tín khác trong triều đình suy tôn Lý Công Uẩn lên ngôi vua, mở ra vương triều Lý - một vương triều rực rỡ, huy hoàng trong lịch sử phong kiến Việt Nam hồi thế kỷ XI đầu thế kỷ XIII. Và sự kiện này đã được sách Việt sử lược - một bộ sách khuyết danh thời Trần và sách Đại Việt sử ký toàn thư - bộ sách thời Lê do Ngô Sĩ Liên biên soạn một cách rất đầy đủ, sinh động.

Sau đây là sự ghi chép của sách Việt sử lược, lúc Lý Công Uẩn chuẩn bị lên ngôi:

Vua lúc ấy 36 tuổi, đem 500 quân Tuỳ Long vào làm túc vệ. Lúc bấy giờ ở trong nội có chức Chi hậu Đào Cam Mộc đoán biết vua có ý lên ngôi, bèn dùng lời lẽ xa xôi nói khích vua rằng: “Chúa Thượng (chỉ Ngoạ Triều - TQV) tối tăm ngoan ngạnh, làm nhiều việc bất nghĩa; trời chán đức ấy, nên không được sống lâu. Con nối ngôi còn nhỏ tuổi, không kham nổi đa nạn, nhiều việc phiền nhiễu, bách thần không nơi dựa, hạ dân nhao nhao, muốn tìm người chúa. Thân vệ (chỉ Công Uẩn - TQV) sao chẳng nhân lúc này, theo dấu Thang Võ ngày xưa, noi gương Dương Lê mới rồi, trên thuận lòng trời, dưới thoả dân mong, mà còn cứ khư khư giữ cái tiểu tiết hay sao?”.

Vua tuy nghe nói thế thì đẹp lòng, nhưng ngờ là có mưu gian, bèn giả vờ mắng rằng: “Ông sao lại dám nói lời như thế, ta tất phải bắt ông nộp quan làm tội”. Cam Mộc thong thả nói rằng: “Thần thấy thiên thời, nhân sự như vậy, nên mới dám tâu lên, nay toan bắt nộp quan làm tội thì thần cũng đành chịu chết”. Vua nói: “Ta sao lại nhẫn tâm đi cáo giác ông, nhưng sợ rằng nói lộ ra thì bị giết cả”. Cam Mộc lại nói với vua rằng: “Người trong nước đều nói Nguyễn (Lý) phải thay Lê, lời sấm đã xuất hiện, không thể che giấu đi được! Chuyển hoạ thành phúc là lúc này đây, Thân vệ sao lại còn nghi ngờ gì nữa?”. Vua nói: “Ta xem chí ông cùng với Vạn Hạnh không khác gì nhau, nếu thực sự như lời nói ấy, thì phải làm thế nào?”. Cam Mộc nói: “Nay trăm họ mỏi mệt, dân không chịu nổi mệnh lệnh. Nếu Thân vệ lấy ân đức mà vỗ về, tất trăm họ sẽ vui vẻ mà theo, cũng như nước chảy chỗ trũng, ai mà ngăn được!”.

Cam Mộc biết việc đã gấp, sợ sinh biến, bèn nói với khanh sĩ trong triều, ngay ngày hôm ấy hội họp ở triều đường bàn rằng: “Nay ức triệu người có lòng khác, trên dưới lìa đức, người ta sợ sự hà ngược của tiên vương, không muốn theo về tự quân, mà đều có chí suy tôn Thân vệ. Lũ ta sao chẳng nhân lúc này, lập Thân vệ làm thiên tử, nhỡ ra có biến, thì có giữ được đầu không?”. Do đó mọi người đều phò vua lên chính điện, lập làm thiên tử. Bách quan đều hô vạn tuế.

Năm Dậu (1009), mùa đông tháng 11 vua lên ngôi, đại xá thiên hạ, đốt hết hình cụ. Quần thần dâng tôn hiệu là: Phụng thiên, chi lý, ứng vận, tự tại, thánh minh, long hiện, duệ văn, anh vũ, sùng nhân, quảng hiếu, thiên hạ thái bình, khâm minh quang trạch, chiêu dương vạn bang, hiển ứng, phù cảm uy trấn phiên man duệ mưu thần công, thánh trị, tắc thiên đạo chính hoàng đế. Vua truy tôn cha là Hiển Khánh Vương, mẹ là Minh Đức Thái hậu, lập hoàng hậu sáu người, lập con trai là Mã làm Thái tử, những con trai khác đều được tước hầu, mười ba người con gái vua đều là công chúa; đem con gái cả là công chúa An Quốc gả cho Đào Cam Mộc được phong là Nghĩa Tín hầu. Anh ruột vua là Mỗ làm Vũ Uy vương, em là Dực Thánh vương, Trần Cảo làm Tướng công, Ngô Đinh là Khu mật sứ, Quy Thạc Phụ làm Thái bảo, Đặng Văn Hiến làm Thái phó, Bùi Xa Lỗi làm Tả kim ngô, Đảm Thản làm Tả vũ vệ, Đỗ Gián làm Hữu Vũ Vệ”.

Cũng với nội dung sự kiện về Đào Cam Mộc có công suy tôn Thân vệ Lý Công Uẩn lên ngôi vua, sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi chép cũng gần tương tự như Việt sử lược.

Như vậy, qua sự ghi chép của sử sách xưa, chúng ta có thể thấy rõ vai trò, vị thế của Đào Cam Mộc trong bước phát triển của lịch sử dân tộc hồi cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI. Chính ông (cùng với sư Vạn Hạnh) là một trong hai người chủ xướng đưa Lý Công Uẩn lên ngôi hoàng đế, lập ra vương triều Lý - một vương triều tiến bộ có nhiều đóng góp to lớn trong việc duy trì, giữ vững đất nước và phục hưng văn hoá dân tộc. Với công lao trực tiếp trong việc thiết lập vương triều Lý mà Đào Cam Mộc đã được vua Lý Công Uẩn ban thưởng nhiều đặc ân (như được lấy công chúa An Quốc và được phong tước Nghĩa Tín hầu) để rồi trở thành đệ nhất công thần triều Lý. Với vai trò, vị thế của mình, Đào Cam Mộc xứng đáng được lịch sử suy tôn là nhân vật tiêu biểu của đất nước hồi cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI.

Theo sự ghi chép của Đại Việt sử ký toàn thư thì vào năm “Ất Mão (Thuận Thiên) năm thứ 6 (1015), (Tống Đại Trung Tường Phù năm thứ 8)... Đào Cam Mộc chết, tặng Thái sư á vương”. Từ đó trở đi, người đương thời và người hậu thế ở các triều sau đều chỉ gọi Đào Cam Mộc là Thái sư á vương một cách đầy tôn kính.

Sau khi mất, Đào Cam Mộc đã được vua Lý cho đục tượng thờ ở chùa Hưng Phúc của Tràng Lang quê nội - một ngôi chùa có từ thời Đinh, và cho quê ngoại Nam Thạch - nơi có nhiều gắn bó kỉ niệm từ thuở ấu thơ đến tráng niên lập đền thờ ông với qui mô bề thế. Sau đó một thời gian, ở làng Bùi Hạ (nay thuộc xã Yên Phú, Yên Định) cũng có nghè thờ Đào Cam Mộc vì theo truyền thuyết thì xưa kia, cứ về mùa lũ, nước sông Mã cũ (tức Cựu Mã Giang) thường gây ra lụt lội, ngập úng. Trong vài lần lụt lội, bài vị và đồ thờ ở đền thờ Đào Cam Mộc thôn Nam Thạch cứ trôi dạt về thôn Bùi Hạ. Lần đầu tiên, biết là đồ thờ ở đền Đào Cam Mộc, dân làng Bùi Hạ đều đem trả về cho làng Nam Thạch. Nhưng lần lụt thứ hai, rồi thứ ba, đồ thờ và bài vị ấy vẫn cứ trôi về chỗ cũ ở sát gò đất cao của làng Bùi Hạ. Dân làng Bùi Hạ cho là chuyện thiêng nên đã quyết định xây dựng một ngôi đền để thờ Thái sư á vương Đào Cam Mộc, và đặt tên cho nó là Nghè Hạ (còn đền ở Nam Thạch thì gọi là Nghè Thượng). Từ đó, hang làng Bùi Hạ và Nam Thạch đã kết nghĩa cùng nhau và cùng tổ chức tế lễ vào các ngày 23, 24, 25 tháng 11 âm lịch hàng năm.

Ngoài việc kết nghĩa (kết chạ) với làng Bùi Hạ, làng Nam Thạch còn kết nghĩa với làng Tràng Lang (quê nội của Đào Cam Mộc). Trong quá trình lịch sử từ rất lâu đời, quê nội (Tràng Lang) và quê ngoại (Nam Thạch) của Đào Cam Mộc đã vun đắp mối tình đoàn kết keo sơn. Và trên thực tế, trong chiến tranh giặc dã, hoặc khi mất mùa đói kém, dù ở cách xa nhau tới hơn chục km nhưng nhân dân của hai làng vẫn tìm cách giúp đỡ lẫn nhau.

Gần đây, sau khi được Bảo tàng tổng hợp Hải Phòng tặng tập sách “Hải Phòng di tích danh thắng xếp hạng quốc gia”, xuất bản năm 2005, chúng tôi lại được biết rõ hơn về hành trạng thân thế, cuộc đời của Đào Cam Mộc. Ngoài người vợ được vua Lý Công Uẩn gả cho là công chúa An Quốc, Đào Cam Mộc còn có một vợ nữa, đó là bà Đỗ Thị Uyển - con quan Đỗ Hương ở làng Vân Tra (nay thuộc xã An Đông, huyện An Dương, thành phố Hải Phòng). Bà Uyển sinh được hai người con trai là Đào Lôi và Đào Điện. Thần phả ở làng Vân Tra ghi chép rất rõ về Đào Lôi, Đào Điện chính là con của Thái sư á vương Đào Cam Mộc, và cả ba cha con đều là đại thần của vương triều Lý. Sau khi mất, Đào Lôi được thờ ở đình và chùa Vân Tra cùng với cha là Đào Cam Mộc và mẹ là Đỗ Thị Uyển. Ngoài ra, ở Hải Phòng, Đào Lôi còn được thờ ở chùa Nhân Lý (nay thuộc xã Cao Nhân, huyện Thuỵ Nguyên). Hiện tại, di tích đình - chùa Vân Tra và chùa Nhân Lý đều đã được xếp hạng di tích cấp quốc gia - nơi mãi mãi ghi nhận công đức của vợ chồng, cha con Đào Cam Mộc.

Nhớ về công đức của vị đệ nhất công thần triều Lý, ở thành phố Hồ Chí Minh hiện vẫn còn con đường mang tên Đào Cam Mộc.

Vì vậy, các địa điểm thờ Đào Cam Mộc ở Thanh Hoá (như ở Tràng Lang - Định Tiến), Nam Thạch - Yên Trung và Bùi Hạ - Yên Phú cũng cần được phục hồi, tôn tạo để biểu thị sự thành kính, biết ơn vị danh nhân tiêu biểu của đất nước hồi cuối thế kỷ X, đầu thế kỷ XI.

Phạm Tấn

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1