GMT+7
Trang chủ / Chuyên mục khác / 990 năm Danh xưng Thanh Hóa

Danh tướng Lê Phụng Hiểu trong sử sách và truyền thuyết dân gian

Đăng lúc: 24/02/2019 14:30 (GMT+7)

- Từ trước đến nay chúng ta biết đến Lê Phụng Hiểu qua một số tài liệu như: Đại Việt sử ký toàn thư, Lịch triều hiến chương loại chí. Các bộ chính sử này cho biết: Lê Phụng Hiểu người hương Băng Sơn, Châu Ái. Lúc trẻ hùng dũng, có lần đánh nhau với bọn người ở ấp bên cạnh là Đàm Xá. Ông vươn mình nhổ cây đánh vung vào làm cho nhiều người bị thương. Mọi người sợ nên không dám đến gần. Lý Thái Tổ nghe tiếng ông, nhận dùng làm tướng, sau thăng Vũ vệ tướng quân.

Khi Thái tổ chết, có ba vương là Đông Chinh, Dực Thánh và Vũ Đức phục quân gây biến. Ông đem vệ sĩ đi đánh, tuốt gươm xông thẳng đến bắt được Vũ Đức vương giết đi, và sai quan quân đuổi dẹp lính ba phủ [của ba vương]. Rồi trở về tôn Thái Tông lên ngôi. Thái Tông cầm tay ông an ủi rằng: “Ta sở dĩ giữ được nghiệp lớn của tiên đế mà giữ được toàn vẹn thân thể của cha mẹ ta sinh ra là nhờ sức của khanh. Ta thường xem sử Đường, thấy Uất trì Kính Đức(1) cứu vua khỏi nạn, tưởng là đời sau không ai sánh kịp. Ngày nay gặp biến, mới biết khanh còn trung dũng hơn Kính Đức nhiều lắm”. Được ít lâu phong ông làm đô thống thượng tướng quân, tước hầu.

Trong đời Thiên Cảm Thánh Vũ ông làm tiền phong theo Thái Tông đi đánh phía Nam(2); phá tan quân địch, tiếng tăm lừng lẫy nước phiên. Lúc khải hoàn bàn định công lao, ông nói rằng: “Tôi không muốn nhận tước thưởng, chỉ xin đứng trên Băng Sơn ném con dao to ra xa xem dao rơi đến đâu thì xin cho khoảng đất trong vòng ấy để lập cơ nghiệp”. Vua nghe lời. Rồi về sau xuống chiếu lấy hơn nghìn mẫu ruộng ở Băng Sơn cấp cho ông làm ruộng tư điền, cho con cháu làm hương hỏa phụng thờ để nêu công. Sau khi ông chết, người trong ấp lập đền, thờ làm phúc thần(3). Nhà sử học Phan Huy Chú khi viết về các nhân vật lịch sử đã xếp Lê Phụng Hiểu vào hàng “Tướng có tiếng và tài giỏi”, là một trong hai người đời Lý, bốn người đời Trần, 12 người đời Lê Sơ, 19 người đời Lê Trung Hưng(4).

Ngoài đoạn trích trên đây, không còn sách nào nói thêm về Lê Phụng Hiểu nữa. Và câu chuyện ném dao xa hơn 10 dặm cho đến nay không rõ thực hư. Nhưng truyền thuyết dân gian ở vùng đồng bằng sông Mã có xu hướng quy về cho Lê Phụng Hiểu là người đã có công cùng với dân làng khai phá đất đai từ vùng đông nam huyện Hoằng Hoá đến vùng đất Thiệu Hoá cũ và hai huyện Hậu Lộc - Hà Trung, nằm trong vùng ảnh hưởng của Đức Thánh Bưng khổng lồ trong hệ thống thần thoại Việt Nam. Để góp thêm tư liệu cho công việc tìm hiểu, xác định quê hương cũng như đền thờ chính của Lê Phụng Hiểu, chúng tôi xin nêu thêm một số tư liệu địa phương trên cơ sở của truyền thuyết dân gian và dấu tích còn lại ở đền thờ Lê Phụng Hiểu tại xã Hoằng Sơn, huyện Hoằng Hoá, với hy vọng trong truyền thuyết, ký ức của dân tộc có bóng dáng của thực tế lịch sử.

 Lê Phụng Hiểu (minh họa truyện tranh của Nxb Kim Đồng.jpg

Lê Phụng Hiểu (minh họa truyện tranh của Nxb Kim Đồng)

Nhìn lại buổi đầu của lịch sử hình thành chúng ta thấy kẻ Bưng, tức làng Băng Sơn trước đây, sau đổi thành Hương Sơn và Xuân Sơn (ngày nay thuộc huyện Hoằng Hoá - Thanh Hoá), nằm trong vùng tụ cư khá sớm của người Việt cổ bên bờ sông Mã. Tại vùng này, khảo cổ học đã tìm thấy di chỉ Quỳ Chử (Hoằng Quỳ) thuộc giai đoạn Gò Mun của thời kỳ Văn hoá Đông Sơn. Cùng với di chỉ Quỳ Chữ, khảo cổ học còn phát hiện ra một loạt các di chỉ khác như Mả Mộ, Mả Chùa, Bãi Sành, Văn Chỉ, Cồn Kiên, Mã Cáo. Ngoài ra còn có các di chỉ Hoa Lộc, Thành Nhị (Liên Lộc); Bái Trung, Bái Cù (Hoà Lộc), Cồn Nghè và Cồn Sau Chợ (Hoa Lộc) cũng thuộc giai đoạn văn hoá Đông Sơn. Như vậy, là từ trong thời kỳ dựng nước đầu tiên, một số xóm làng đã được hình thành trên ven bờ sông Mã, trong đó bao gồm vùng đất sau này là Kẻ Bưng.

Vào thế kỷ X - XI, Kẻ Bưng với tên làng Băng Sơn hẳn đã trở thành một đơn vị hành chính ổn định và được ghi vào sử sách với sự tích Lê Phụng Hiểu. Tất cả các nguồn sử liệu từ thư tịch cổ như Đại Việt sử ký toàn thư, Việt điện u linh, Đại Nam nhất thống chí,... đến thần tích, bia ký, truyền thuyết địa phương đều xác nhận Lê Phụng Hiểu người Băng Sơn, đã tham gia vào triều chính, được vua Lý Thái Tổ dùng làm tướng, thăng đến chức Vũ vệ tướng quân, sau đó lại theo vua Lý Thái Tông đi đánh Chiêm Thành, làm tiên phong phá tan quân giặc và được vua phong tặng đất làm sản nghiệp tại Băng Sơn.

Nguồn tài liệu chính sử cũng như truyền thuyết không cho biết ông chết ở nơi nào; chỉ biết rằng sau này người dân Băng Sơn thương nhớ lập đền thờ ông và suy tôn ông làm Thành hoàng của làng và gắn Lê Phụng Hiểu với hình tượng người khổng lồ là ông Bưng (Đức Thánh Bưng). Từ đó về sau các triều vua đều có sắc phong và hàng năm vào ngày 8 tháng 3 (Âm lịch), tương truyền là ngày sinh của Đức Thánh Bưng, nhân dân lại mở hội, nhằm tưởng niệm và nêu cao công lao sự nghiệp của Lê Phụng Hiểu.

Trong ngày hội làng Bưng, các trò diễn xướng như rước kiệu, đánh vật, chèo chải... đều được mọi tầng lớp xã hội và lứa tuổi cả gái trai Kẻ Bưng tham gia. Đó là hình thức diễn xướng dân gian tả lại cảnh quần chúng biểu dương sức mạnh của tập thể, một cộng đồng đi theo người con của quê hương xây dựng và bảo vệ xóm làng.

Lê Phụng Hiểu và nhân dân làng Bưng đã tham gia và có những cống hiến nhất định trong việc xây dựng xóm làng và khai phá đất đai mà những địa danh như làng Bưng, làng Ích Hạ, làng Đức Giáo, làng Trung Hậu, làng Phú Tiên thuộc xã Hoằng Sơn và xã Hoằng Quỳ (huyện Hoằng Hoá) còn lại những dấu ấn của một vùng đất gắn bó rất đậm với Lê Phụng Hiểu.

Theo Việt điện u linh, Đại Việt sử ký toàn thư và những tư liệu địa phương thì Lý Thái Tông đã đánh giá cao công lao của Lê Phụng Hiểu nên ông mới được phong tặng đất để làm sản nghiệp tại quê hương. Sự đậm đặc về di tích đền thờ ông trên vùng đất Hoằng Hoá và Thanh Hoá là minh chứng phản ánh điều đó.

Ở đây, có một vấn đề đặt ra, cũng là điều băn khoăn mà nhân dân Hoằng Sơn hiện nay mong muốn được làm sáng tỏ hơn, đó là mối quan hệ giữa Lê Phụng Hiểu và gia tộc, nhất là giữa ông và cha mẹ như thế nào? Về vấn đề này cho đến nay còn có nhiều cách nhìn nhận khác nhau.

Các công trình nghiên cứu khoa học trước đây, ít nhiều chỉ đề cập tới vấn đề ruộng đất - một loại hình ruộng đất phong cấp mà sử cũ quen gọi là "Thác đao điền" dưới thời vua Lý Thái Tông gắn liền với chuyện Lê Phụng Hiểu. Còn bản thân Lê Phụng Hiểu cũng không thấy nhắc tới ngày sinh, ngày mất cũng như mối quan hệ giữa ông và cha mẹ.

Truyền thuyết dân gian vùng này nhắc đến mẹ của Lê Phụng Hiểu là một người phụ nữ không chồng, mở hàng nước ở chợ Trọng. Một hôm đi gánh nước sông Mã gặp cơn mưa sớm (cũng có lời kể bà dẫm phải bàn chân lạ khổng lồ) về thụ thai và đẻ ra cậu bé sau này là Lê Phụng Hiểu (hay Đức Thánh Bưng).

Gần đây, trong khi khảo sát đền thờ và dấu tích ở xã Hoằng Sơn (trong đền thờ - còn gọi là đền Bưng là nơi thờ Lê Phụng Hiểu, còn dưới chân núi là mộ của mẹ ông), các cụ già ở địa phương còn cho biết tên người mẹ của Lê Phụng Hiểu là Lê Tố Nương và tên bố là "Ông Lê" làm tướng dưới thời Lê Hoàn?

Cũng có lời kể lại rằng quê quán của mẹ Lê Phụng Hiểu là ở làng Quỳ Chử (Hoằng Quỳ) và Lê Phụng Hiểu cũng có gốc gác là dân Quỳ Chử.

Như vậy, trong dân gian đã hình thành nên hai quan niệm khác nhau về quê quán của mẹ con Lê Phụng Hiểu: Quỳ Chữ (Hoằng Quỳ) hay Hoằng Sơn.

Quả thật, sử sách ghi chép không rõ ràng và những tư liệu thu thập được cho đến nay có thể khai thác theo những góc độ khác nhau để chứng minh cho những quan điểm trái nhau.

Tuy nhiên căn cứ chính để cho rằng Lê Phụng Hiểu là người Hoằng Sơn dựa vào hai nguồn tư liệu:

- Trong chính sử chép Lê Phụng Hiểu làm tướng dưới thời Lý, có công lớn, được phong đất tại quê hương là làng Băng Sơn.

- Nguồn tư liệu về quê quán Lê Phụng Hiểu ở làng Xuân Sơn ngày nay có tên nôm là Kẻ Bưng nổi tiếng. Tại đây còn ngôi đền thờ Lê Phụng Hiểu nằm dưới chân núi Bưng nhìn ra sông Ấu (Trà Giang) mà theo các cụ già địa phương là ông Bưng đã bắt con trâu xanh, chặt cây lim to làm cành và cày một đường thành con sông Ấu.

Về nơi thờ của Lê Phụng Hiểu, hiện nay trên đất Thanh Hoá có 32 đền thờ ông, nhưng đền thờ gốc được xác định là ở Kẻ Bưng (Hoằng Sơn) gắn liền với sự tích "Thác đao điền" và 21 đạo sắc phong từ thời Cảnh Hưng thứ nhất (1740) đến năm Khải Định thứ 8 (1923). Đấy là những tài liệu gốc, là chứng cứ có tính thuyết phục nhất cho thấy "đệ nhất chính từ ở Băng Sơn". Căn cứ vào các đạo sắc phong đã nêu, chúng ta biết ít nhất đến thế kỷ XVIII, ngôi đền thờ Đức Thánh Bưng - Lê Phụng Hiểu ở đây đã là một di tích tồn tại với tư cách là nơi thờ cúng và là một công trình kiến trúc khá đầy đủ về diện mạo. Tuy nhiên, khu di tích này có thể có niên đại sớm hơn, nhưng những dấu tích về kiến trúc cũng như hiện vật hiện tại chưa cho chúng ta hiểu biết gì thêm.

 Đền thờ Lê Phụng Hiểu, làng Xuân Sơn, xã Hoằng Sơn, Hoằng Hóa ảnh Viết Trung.jpg

Đền thờ Lê Phụng Hiểu, làng Xuân Sơn, xã Hoằng Sơn, Hoằng Hóa. (Ảnh: Viết Trung)

Về không gian kiến trúc của đền, trước đây có cổng nghinh môn, được xác định bởi 4 trụ hoa vuông thành sắc cạnh vươn cao với hình đèn lồng ở gần đỉnh cột, trên đỉnh có tượng nghê chầu. Hai đầu cột thấp cũng được tạo tác trụ đấu nâng bông sen. Nối trụ hoa với trụ góc là bức tường thấp. Ở đoạn giữa xây cửa cuốn kiểu chồng diêm hai tầng mái có các đầu đao. Các đao này như những cánh hoa hoà nhập với mái để tạo nên sự uyển chuyển và mềm mại của công trình. Giữa cửa ra vào là một bức bình phong. Hai bên sân có tả vu, hữu vu và đền thờ. Rất tiếc những công trình này đã bị phá gần hết chỉ còn lại toà nhà hậu cung có niên đại khoảng thế kỷ XVII - XVIII, còn ngôi tiền đường 5 gian mới được trùng tu mấy năm trở lại đây.

Dấu tích kiến trúc còn lại để khẳng định niên đại của ngôi đền thờ này là một hậu cung còn tương đối nguyên vẹn với kết cấu theo kiểu “giá chiêng chồng rường con nhị" - một kiểu liên kết vì kèo tương đối phổ biến của nền kiến trúc dân gian Việt Nam ở đồng bằng châu thổ sông Hồng và sông Mã. Liên kết vì kèo ở đây gồm những con rường dài, ngắn khác nhau được chồng lên nhau qua những đấu vuông thót đáy mỏng, thấp, ăn mộng vào hai đấu trụ. Hai đấu trụ này ăn mộng vào câu đầu và các con rường này ngắn dần về phía thượng lương. Con rường trên cùng (rường bụng lợn) nối hai đấu trụ, phía trên là một đấu trụ đỡ thượng lương. Kiểu liên kết câu đầu ăn mộng vào đầu cột cái và trên nó là những con rường chồng lên nhau, không thấy xuất hiện quá giang, điều đó cho biết ít nhất hậu cung này có niên đại trong các thế kỷ XVII - XVIII. Về cấu trúc, hậu cung gắn hữu cơ với tiền đường tạo nên một thể thống nhất, nhưng lại được ngăn cách bởi các cửa ra vào, vì vậy chúng tạo thành những không gian riêng.

Ngoài dấu tích kiến trúc, hiện vật có giá trị là bàn thờ Mẫu, trên bàn thờ là Đức Thánh Mẫu ngồi giữa, hai bên là hai bức tượng Quế Hoa và Quỳnh Hoa được đặt trong một hộp gỗ sơn son thếp vàng. Tương truyền đây là mẹ của Lê Phụng Hiểu và người hầu. Ba bức tượng này trước đây là ở phủ Mẫu trên núi Bưng, sau này phủ hư hỏng nặng nên di chuyển về đền thờ Lê Phụng Hiểu.

Bản Mục lục quốc âm trước đây bằng chữ Hán, nay đã chuyển sang chữ quốc ngữ, do sao chép không cẩn thận nên rất sơ lược, nhầm lẫn, nhiều chỗ để trống và sai sót. Nội dung chủ yếu là ca ngợi cảnh vật quê hương (làng Băng Sơn) và nói tới công lao của Lê Phụng Hiểu đối với sự nghiệp đánh giặc cứu nước.

Một đôi câu đối và truyền thuyết dân gian làng Bưng nói tới Lê Phụng Hiểu người làng Bưng. Ở làng Xuân Sơn ngày nay, dòng họ Lê là một dòng họ lớn. Kết quả khảo sát cho thấy, ở đây có dòng họ Lê và một tấm bia đã bị mờ hết, các cụ già cho biết, đây là tấm bia phần lớn ghi tên những người có công đóng góp trong việc xây dựng đền thờ. Rõ ràng, khách quan mà xét thì dấu tích của Lê Phụng Hiểu ở làng Băng Sơn khá đậm nét. Tuy rằng, dấu vết của loại ruộng đất nhà Lý phong tặng cho Lê Phụng Hiểu ở vùng Băng Sơn ngày nay khá mờ nhạt.

Tuy vậy, ở làng Quỳ Chử (Hoằng Quỳ), Lê Phụng Hiểu cũng được nhân dân xây dựng đền thờ và được tôn xưng là Đức Thánh Tến. Ngoài đền Bưng và đền Tến là hai nơi thờ chính, nhân dân vùng đông nam huyện Hoằng Hoá đến vùng Thiệu Hoá cũ và Hậu Lộc, Hà Trung có đến 32 đền thờ Lê Phụng Hiểu.

Như vậy, không ai nghi ngờ những nơi thờ Lê Phụng Hiểu, nhưng ở làng Quỳ Chử (Hoằng Quỳ) thờ Lê Phụng Hiểu làm Thành hoàng, thì chưa có cứ liệu gì đáng tin cậy chứng tỏ ông quê ở làng này. Trong khi đó, dấu tích của Lê Phụng Hiểu ở làng Băng Sơn lại rất rõ nét. Ở đây, ngoài đền thờ với đồ thờ, câu đối, truyền thuyết dân gian, hội Bưng hàng năm nổi tiếng khắp vùng, còn có hai hòn đá lưng to, nặng, tương truyền xưa kia Lê Phụng Hiểu dùng để luyện võ, một số tư liệu văn tự, dấu tích, mồ mả khẳng định quê hương Lê Phụng Hiểu là Kẻ Bưng (tức xã Hoằng Sơn ngày nay).

Theo những tư liệu địa phương này, Lê Phụng Hiểu còn có mẹ tên là Lê Tố Nương, cha là ông Lê người làng Băng Sơn. Tại đền thờ ngày nay nằm trên một khoảng đất, trước mặt có hồ hình yên ngựa, trước đây có chữ "Thử linh địa" và bức đại tự ngày nay vẫn còn có chữ “Tối linh từ”. Tương truyền rằng đền thờ được dựng gần nơi ở của mẹ con Lê Phụng Hiểu xưa kia.

Đối chiếu các tư liệu trên có thể cho phép chúng ta nghĩ rằng Lê Phụng Hiểu là người Kẻ Bưng, gắn liền với sự tích, đền thờ và các nguồn tư liệu thư tịch. Nhưng chưa có thể coi đây là một kết luận khoa học, vì quả thực tư liệu còn có chỗ mơ hồ vì chưa xác minh được chắc chắn. Ví dụ: Về cái chết của Lê Phụng Hiểu chính sử không chép, trong lúc các thần tích và tư liệu dân gian phản ánh khác nhau. Tư liệu dân gian cho biết sau khi đã giết được con cọp trắng để cứu dân làng Hoa Lâm (Hà Trung) và sau đó ông lên núi Hoa Lâm, cởi áo để lại và hoá. Ngày nay, cứ buổi chiều mùa hạ nhìn lên bầu trời phía núi Hoa Lâm thấy có đám mây khổng lồ hiện ra trông giống như người đang quỳ, đầu gục xuống hoặc ngẩng cao lên, đó là hình bóng ông Bưng - Lê Phụng Hiểu. Để tiến tới giải quyết một cách khoa học vấn đề đặt ra, chúng ta không hy vọng tìm thêm tư liệu trong chính sử, nhưng chắc chắn có thể phát hiện và thu thập được nhiều nguồn tư liệu mới ở những làng thờ Lê Phụng Hiểu trên đất Thanh Hoá cũng như một số làng khác ở đồng bằng châu thổ sông Mã. Hy vọng rằng những tư liệu này sẽ góp phần bổ sung sự nghiệp của Lê Phụng Hiểu và giải quyết mối quan hệ giữa ông với quê hương Kẻ Bưng.

Dù có những khía cạnh còn tiếp tục nghiên cứu xác minh thêm, nhưng điều cần khẳng định là dưới vương triều Lý cũng như trong cuộc chiến tranh bảo vệ đất nước, người dân Băng Sơn trong đó có Lê Phụng Hiểu đã có những cống hiến quang vinh đáng tự hào, trong đó:

- Về mặt tinh thần, việc suy tôn người anh hùng có công đánh giặc cứu nước Lê Phụng Hiểu làm Thành hoàng của làng cùng với việc xây dựng đền thờ, gìn giữ và bảo vệ di tích lịch sử, nhất là hội Bưng hàng năm, giữ vai trò quan trọng trong sinh hoạt văn hoá dân gian của làng và tạo nên một môi trường lịch sử có ý nghĩa, nâng cao niềm tự hào và giáo dục truyền thống đối với các thế hệ nối tiếp của dân làng. Dĩ nhiên trong những điều kiện lịch sử trước đây, những hình thức suy tôn, tưởng niệm những nhân vật lịch sử thường bao phủ trong màn huyền thoại có vẻ thần bí và kết hợp đan xen, phức tạp với các tín ngưỡng dân gian và cả những ảnh hưởng của Phật giáo, Đạo giáo, Nho giáo... Dù sao, đó cũng là những yếu tố tốt đẹp tạo nên sự gắn bó của quan hệ cộng đồng làng xã, nuôi dưỡng lòng yêu quê hương làng xóm, gắn liền với lòng yêu nước, tạo nên sức mạnh tập thể. Trong trường hợp cụ thể của Lê Phụng Hiểu, việc nhất thể hoá ông với Đức Thánh Bưng (hình tượng người khổng lồ) và hệ thống các di tích thờ ông trải rộng trên cả một vùng rộng lớn của châu thổ sông Mã, là một trong những nguyên nhân để việc tìm hiểu về Lê Phụng Hiểu chưa thấu đáo; ấy là do nguồn tài liệu thực địa chưa đầy đủ.

- Qua việc tìm hiểu có hệ thống các di tích, nhất là việc thờ cúng và sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo từ vùng đông nam huyện Hoằng Hoá đến vùng Thiệu Hoá, Hậu Lộc, Hà Trung chúng ta thấy, từ việc thờ cúng chính ở đền Bưng (Hoằng Sơn - Hoằng Hoá), Lê Phụng Hiểu được thờ vọng ở nhiều nơi, được coi như là vị thần bảo hộ cho cả khu vực và nhiều nơi thờ làm Thành hoàng. Trong truyền thuyết dân gian, Lê Phụng Hiểu - Đức Thánh Bưng đã hoá thành ruộng đồng, sông núi... đã hoá thân vào trong cuộc sống văn hoá và tín ngưỡng của người dân đồng bằng châu thổ sông Mã.

 

----------

(1) Tức Uất Trì Cung, danh tướng đời Đường, cứu Đường Thế Dán khỏi bị Đan Hùng Tin đâm.

(2) Tức đánh Chiêm Thành.

(3) Phan Huy Chú, Lịch triều hiến chương loại chí, tập 1, Nxb Sử học, 1960, tr.248.

(4) Đời Lý: Lê Phụng Hiểu, Lý Thường Kiệt; Đời Trần: Trần Quốc Tuấn, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, Trần Khánh Dư; Đời Lê Sơ: Lê Liệt, Nguyễn Xí, Trần Nguyên Hãn, Lê Sát, Lê Ngân, Lê Nhân Thụ, Trịnh Khả, Phạm Vấn, Lê Khôi, Lê Niệm; Đời Lê Trung Hưng: Trịnh Duy Thuân, Vũ Văn Uyên, Phạm Đốc, Hoàng Đình Ái, Nguyễn Hữu Liêu, Đặng Huấn, Hà Thọ Lập, Lại Thế Khanh, Vũ Sư Thước, Ngô Cảnh Hựu, Đào Quang Nhiêu, Hoàng Nghĩa Giao, Lê Thì Hiến, Đinh Văn Tả, Nguyễn Đình Hoàn, Hoàng Ngũ Phúc, Nguyễn Phan, Bùi Thế Đạt.

TS. Phạm Văn Tuấn

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1