GMT+7
Trang chủ / Chân dung cuộc sống

Từ Nguyên Tĩnh - Một đời văn đau đáu những phận người

Đăng lúc: 22/01/2019 08:00 (GMT+7)

- Xứ Thanh có nhiều tác giả văn xuôi có số lượng tác phẩm đồ sộ, dư luận rộng, tiếng vang lớn, tầm cỡ quốc gia như Nguyễn Thế Phương, Lê Minh Khuê, Nguyễn Ngọc Liễn, Trần Hiệp, Đặng Ái, Kiều Vượng... Từ Nguyên Tĩnh là một trong số đó.

Từ Nguyên Tĩnh tên thật là Lê Văn Tĩnh. Ông sinh năm 1947 (trong Kỷ yếu Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa, năm 1949), tại Xuân Quang, Thọ Xuân, Thanh Hóa. Năm 1965 nhập ngũ, năm 1975 ra quân. Mười năm làm lính pháo binh bảo vệ cầu Hàm Rồng. Mười năm khốc liệt nhất của cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ, trong rốn bom đạn cầu Hàm Rồng, ông vừa là lính trực tiếp ngồi trên mâm pháo chiến đấu, vừa viết văn, viết báo. Ông làm thơ, viết ký, viết trường ca, làm báo cho báo Quân khu III. Xuất ngũ, ông lao vào học văn hóa. Năm 1978, ông đậu Trường Đại học Tổng hợp văn, Hà Nội. Năm 1982, tốt nghiệp Đại học Tổng hợp, ông về công tác ở Phòng văn nghệ của Đài Phát thanh Truyền hình Thanh Hóa. Năm 1986, ông sang công tác ở Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa. Ông được kết nạp vào Hội Nhà văn Việt Nam năm 1994. Năm 1997, ông được bầu vào Ban Chấp hành Hội VHNT Thanh Hóa khóa III, giữ chức Phó Chủ tịch Hội kiêm Tổng biên tập Tạp chí Văn nghệ Thanh Hóa. Ông đảm nhiệm công việc này suốt hai khóa, 11 năm (từ 1997 đến 2008). Mười một năm làm Tổng biên tập Tạp chí Xứ Thanh, với kiến thức, tầm nhìn, sự nhạy bén, ông thay đổi diện mạo đáng kể Tạp chí Văn nghệ Thanh Hóa. Ngay khi làm Tổng biên tập, ông đã đề nghị cấp trên cho Tạp chí Văn nghệ Thanh Hóa đổi tên thành Tạp chí Văn nghệ Xứ Thanh. Từ đó đến nay, Tạp chí vẫn giữ cái tên ấy. Tạp chí Xứ Thanh vượt qua được thử thách của thời gian, chinh phục được bạn đọc gần xa, trở thành một thương hiệu có uy tín văn chương trên phạm vi cả nước. Từ Nguyên Tĩnh vượt qua được chính mình, vượt qua được áp lực của công việc, trở thành một nhà văn đích thực, đàng hoàng, một nhà văn lớn, một tên tuổi uy tín.

 nhà văn Từ Nguyên Tĩnh.jpg

Nhà văn Từ Nguyên Tĩnh.

Từ năm 1984 đến 2008, ông cho ra đời hàng loạt tác phẩm gây ấn tượng sâu sắc, mạnh mẽ đối với bạn đọc. Đó là: Ký sự Hàm Rồng (hai tập viết chung với Lê Xuân Giang năm 1984 - 1987); Tập Truyện ngắn Mối tình chàng Lung Mù (1992); Tập Truyện ngắn Gã nhà quê (1993); Tiểu thuyết Mảnh vụn chiến tranh (1994); Tiểu thuyết Không thành người lớn (1995); Tập truyện ngắn Mùa yêu đương (1997); Tập Truyện ngắn Người tình của cha (1999); Trường ca Hàm Rồng (2000); Tập truyện ngắn Kiếp cầm ca (2002); Truyện dài Con thuyền côi cút (2003); Tiểu thuyết Cõi người (2004); Tập truyện ngắn Chuyện lạ trên núi Mắt Rồng (2005); Truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh (2006); Tiểu thuyết Huyền thoại sông Thu Bồn (2008).

Cuối năm 2017, nhà văn Từ Nguyên Tĩnh cho in Tuyển tập Từ Nguyên Tĩnh. Bộ sách gồm 5 tập. Tập I, Truyện ngắn; Tập II, Truyện ngắn; Tập III, gồm hai Tiểu thuyết: Mảnh vụn chiến tranh Cõi người; Tập IV, gồm hai tiểu thuyết: Truyền thuyết sông Thu Bồn Sống được là may; Tập V, gồm Truyện vừa và Trường ca: Không thành người lớn; Đời côi cút; thơ và Trường ca chọn lọc. Tập dày nhất 650 trang. Tập mỏng nhất 500 trang. Như vậy, Tổng tập Từ Nguyên Tĩnh gần 3.000 trang.

Nếu không giới hạn đúng một trăm trong tuyển tập, ông đưa cả hơn một trăm mười truyện ngắn, nếu ông đưa mấy chục bài ký viết suốt mấy chục năm và hai tập Ký sự Hàm Rồng (in chung với Lê Xuân Giang) vào tuyển tập; nếu ông đưa tất cả hàng trăm bài thơ trong Bản thảo một, Bản thảo hai, Bản thảo ba, Bản thảo bốn vào tuyển tập; nếu ông đưa tất cả bốn năm chục bài các nhà phê bình lý luận văn học, bạn bè văn chương viết về tác phẩm Từ Nguyên Tĩnh có lẽ bộ tuyển Từ Nguyên Tĩnh không phải chỉ 5 tập, không phải chỉ ba nghìn trang mà có khi phải sáu, bảy tập, số trang phải bốn, năm nghìn trang.

Truyện ngắn: Gã nhà quê; Hạnh phúc trần gian; Người tình của cha; Người đàn bà quàng khăn màu hổ phách; Một... hai... ba... bốn; Thợ cối xay; Đứa bỏ làng; Nợ làng quê; Chuyện lạ trên núi Mắt Rồng; Trai đò dọc và nhiều truyện ngắn khác nữa gây tiếng vang lớn một thời. Một số truyện ngắn của ông được chuyển thể thành kịch bản phim, dựng thành phim như: Hạnh phúc trần gian; Người tình của cha. Khi phim công chiếu đã lay động hàng triệu con tim. Truyện ngắn Người tình của cha được Hội đồng giáo dục, Sở Giáo dục Thanh Hóa chọn đưa vào giảng dạy phần văn học địa phương ở bậc Trung học cơ sở. Tiểu thuyết Cõi người; Sông Thu bồn; Mảnh vụn chiến tranh của ông được tỉnh Quảng Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Quảng Nam, Hội Văn học Nghệ thuật Thanh Hóa và Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức nhiều cuộc hội thảo.

 20180409_103116.jpg

Tuyển tập nhà văn Từ Nguyên Tĩnh gây ấn tượng mạnh mẽ với bạn đọc.

Đóng góp của ông cho nền văn học nước nhà, cho Thanh Hóa rất lớn, khối lượng tác phẩm đồ sộ, tên tuổi ông vươn rộng, vươn xa, tươi tốt trong lòng bạn đọc cả nước. Ông viết văn bằng kỷ niệm, ký ức, nỗi niềm, sự thúc giục của con tim nhiều hơn lý trí. Dù văn hay thơ, trang nào trong tác phẩm của Từ Nguyên Tĩnh cũng giàu chiêm nghiệm, suy ngẫm, day dứt về số phận những con người. Đúng như Nguyễn Đức Thiện nhận định “Từ Nguyên Tĩnh là một nhà văn. Văn ông ngổn ngang người, ngổn ngang việc, ngổn ngang đời trong những trang viết”. Có lẽ vì thế, khi đọc tác phẩm của ông, nhà phê bình lý luận văn học Bùi Việt Thắng phát biểu: “Có cảm tưởng tác giả không dùng kỹ xảo mà viết bằng cả tấm lòng, cả bầu tâm sự muốn dốc hết, và chia sẻ với mọi người những suy ngẫm của mình trước con người. Anh không có ý định triết lý và có vẻ như chỉ hoàn toàn tình cảm khi thể hiện, nhưng mỗi truyện đều để lại ấn tượng mạnh mẽ. Tác giả ca ngợi nghị lực của con người biết đi tìm hạnh phúc -một thứ hạnh phúc dung dị trong đời thường. Con người trong truyện ngắn Từ Nguyên Tĩnh thường được thể hiện trong trạng thái hồn nhiên của nó”. Nhà thơ Mạnh Lê cũng khẳng định: “Mọi phạm trù Mỹ học theo chủ định của nhà văn đều biểu hiện ở hành động tính cách của con người.. Hầu như tất cả các truyện ngắn của Từ Nguyên Tĩnh, mỗi truyện khai thác mỗi tính cách, mỗi mâu thuẫn, mỗi tình huống, mỗi ý tưởng nhưng tựu trung ý nghĩa thẩm mỹ đều dồn tụ ở một điểm: Anh đi tìm cái hạnh phúc giản dị của mỗi đời người. Được sống, được yêu, được quần tụ trong cái hạnh phúc vĩnh hằng cổ xưa như trái đất. Và từ đây mọi nguyên nhân xô đẩy con người mất đi hạnh phúc hay nói cách khác hạnh phúc của đời người phải giành giật từ đau thương mất mát”.

Nhân vật trong truyện ngắn, tiểu thuyết của ông đa dạng, phong phú, nhiều tầng lớp, nhiều vùng quê, nhiều nghề nghiệp, mỗi nhân vật một thân phận, một số phận. Miền Nam có. Miền Bắc có. Miền núi có. Miền biển có. Nông thôn có. Thành thị có. Hạng người cao thượng có. Hạng người lưu manh, đểu cáng có. Nông dân có. Bộ đội có. Khi tâm sự, ông chia sẻ, ông rất vui vì ông có một vùng quê trong văn học. Vùng quê ấy là làng Bàn Thạch của ông. Vùng quê ấy là Hàm Rồng, nơi ông cùng đồng đội bám trụ chiến đấu ác liệt bảo vệ cầu từ khi chiến tranh đến giải phóng miền Nam thống nhất đất nước. Hỏa Diệu Thúy có lý khi viết: “Từ Nguyên Tĩnh đã “mượn” cái làng của mình để hình dung ra xã hội, từ ô cửa “làng mình” để quan sát, chiêm nghiệm và rút ra những triết lí nhân sinh về cuộc đời và con người”.

Nhân vật của ông thì nhiều nhưng tập trung nhất, tâm đắc nhất, ám ảnh nhất, một là hình ảnh người lính, anh bộ đội cụ Hồ trong và sau chiến tranh; hai là người nông dân. Đọc hơn một trăm truyện ngắn và tiểu thuyết của Từ Nguyên Tĩnh, nhà văn Huỳnh Hổ kết luận: “Từ Nguyên Tĩnh say mê khai thác hai đề tài quen thuộc là chiến tranh và nông thôn. Truyện ngắn của anh là những gì trải qua từ sự thâm nhập thực tế, ký ức đã qua trên bình diện rộng từ chiến trường và nông thôn. Bởi lẽ người lính và người nông dân là hai phần đời anh đã sống, đã chiêm nghiệm. Anh khám phá vào chiều sâu thế giới tâm linh con người, tin vào khả năng và bản chất tốt đẹp của họ”. Từ Nguyên Tĩnh dồn hết tâm huyết cho những nhân vật của mình bằng sự từng trải, thấm, ngấm, chiêm nghiệm, đúc kết cuộc sống. Chính vì vậy, nhiều nhân vật trong tác phẩm sống mãi trong tâm khảm người đọc. Nhà thơ Văn Đắc cho rằng “Nếu không phải là người từng trong cuộc, thấm thía nỗi đau mất mát thì không thể có những trang viết nhiều ngẫm nghĩ như thế. Quan điểm về chiến tranh, anh đều lập ra mạnh dạn, không giữ kẽ, câu nệ kiểu cũ”. Cái không giữ kẽ, không câu nệ cái cũ, luôn hướng tới cái mới được thể hiện rất rõ trong lời nói đầu của Nhà Xuất bản Đà Nẵng về Tiểu thuyết Cõi Người của ông “Một tiểu thuyết đầy sức nặng, bề thế ở hình thức và ngồn ngộn ở hàm lượng chứa suốt trên sáu trăm trang sách... Truyền thuyết từ vùng quê đất Việt và thời mở cõi đến sau chiến tranh, mở cửa; từ cải cách ruộng đất đến chống Mỹ và hoà bình được tái hiện sinh động ...và đặt ra những vấn đề lớn mà văn học cần phải đề cập đến hôm nay: chiến tranh và hoà bình, số phận và bản lĩnh con người, cách mạng xã hội và quan hệ cá nhân, vấn đề nông thôn và thành thị, truyền thống và hiện đại, nhu cầu vật chất và đời sống văn hóa, tâm linh... Có cảm giác nhà văn “ưa vác nặng” - một sự tham lam thật đáng yêu. Phải chăng chính điều này lại lôi cuốn gây ấn tượng?”

Ông được 5 Giải A - Giải thưởng Lê Thánh Tông của Hội VHNT Thanh Hóa - Giải thưởng năm năm của tỉnh Thanh Hóa cho các tập: Mối tình chàng Lung Mù (1992); Mùa yêu đương (1997); Trường ca Hàm Rồng (2000); Kiếp cầm ca (2002); Cõi người (2004); Hai giải thưởng Giải 5 năm của tỉnh Thanh Hóa: Mối tình chàng Lung Mù (1991 - 1995); Mùa yêu đương (1996 - 2000). Một số tác phẩm của ông được Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam như: Mối tình chàng lung Mù (1994); Giải thưởng của Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam như: Trường ca Hàm Rồng; Tặng thưởng của Hội nhà văn cho Tiểu thuyết Cõi người (2000 - 2004).

Xin mượn lời nhà nghiên cứu, phê bình văn học Thy Lan đánh giá về ông: “Cả cuộc đời nhà văn Từ Nguyên Tĩnh là sự cống hiến. Những sáng tác của ông đã và đang chiếm được tình cảm độc giả với khối lượng lớn tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau”.

Đó là tổng quát một đời văn của nhà văn Từ Nguyên Tĩnh. Sức lao động, sáng tạo, bền ở đấy. Nghị lực ở đấy. Cống hiến ở đấy. Có người bảo, cứ cho biết số ki-lô-mét chiều dài của con sông, biết lưu vực của con sông, biết lưu thủy của con sông sẽ biết dòng sông ấy lớn hay bé; cứ cho biết số tàu thuyền đi lại trên sông, biết số bến hai bờ sông nhiều hay ít sẽ biết dòng sông ấy sầm uất hay không sầm uất, có sức sống hay không có sức sống.

Các chỉ số dòng sông một đời văn của Từ Nguyên Tĩnh đã hiện lên rõ ràng rành mạch. Bạn đọc tự nhận ra đó là một dòng sông lớn hay bé, sầm uất hay không sầm uất, có sức sống hay không có sức sống. Dòng sông ấy còn đang dào dạt mạch nguồn, đang ầm ào về biển. Tin chắc một ngày kia, khi tái bản tuyển tập Từ Nguyên Tĩnh bạn đọc có thể thấy bộ tuyển tập không phải 5 quyển, không phải gần ba nghìn trang mà Tuyển tập Từ Nguyên Tĩnh dày dặn nhiều hơn nữa.

Nhà văn Nguyễn Minh Khiêm

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1