GMT+7
Trang chủ / Chân dung cuộc sống

Trần Lê Vang - Biểu tượng cao đẹp của những con đường huyền thoại

Đăng lúc: 27/03/2019 09:00 (GMT+7)

- Ông hiền lành, giản dị, gần gũi với mọi người, yêu thương đồng đội, đồng chí hết lòng và liêm khiết, mẫu mực, trong sáng. Nhắc đến ông là nhắc đến một biểu tượng dấn thân, cách mạng, cống hiến, không vụ lợi, không đòi hỏi bất cứ ưu tiên, ưu đãi nào cho mình, một biểu tượng sinh ra dành cho những thử thách lớn, đương đầu với những thử thách lớn.

Nhìn căn nhà cấp bốn đơn sơ lợp ngói, không ai nghĩ đây là cơ ngơi của một người nhiều năm quyền Bí thư rồi Bí thư Đoàn Ty Giao thông Thanh Hóa; nhiều năm giữ chức vụ Đội Phó, Thường vụ Đảng ủy, Bí thư Đoàn thanh niên Đội Thanh niên Tình nguyện (42-12); nhiều năm liên tục làm Bí thư Đảng ủy Cảng Thanh Hóa (Cảng Lễ Môn). Lý lịch của ông là lý lịch của một thời oanh liệt. Ba mươi năm công tác, trong đó mười năm trực tiếp dưới mưa bom bão đạn của giặc Mỹ, 5 năm biên giới Việt - Lào.

Ông hiền lành, giản dị, gần gũi với mọi người, yêu thương đồng đội, đồng chí hết lòng và liêm khiết, mẫu mực, trong sáng. Nhắc đến ông là nhắc đến một biểu tượng dấn thân, cách mạng, cống hiến, không vụ lợi, không đòi hỏi bất cứ ưu tiên, ưu đãi nào cho mình, một biểu tượng sinh ra dành cho những thử thách lớn, đương đầu với những thử thách lớn. Tất cả nghị lực, năng lực, phẩm chất cao đẹp nhất của tuổi trẻ, của người cán bộ, người đảng viên hiến dâng cho đất nước. Ông cống hiến trọn vẹn bằng tuổi trẻ, sức lực, nghị lực, khát vọng cho cả hai con đường huyền thoại Thanh Hóa: Con đường thuyền nan trong chống Mỹ cứu nước; con đường biên giới Việt - Lào trong xây dựng đất nước hòa bình. Chúng tôi gọi ông là người Bí thư Đoàn của một thế hệ vàng, người cán bộ của một thế hệ vàng - người của những con đường huyền thoại. Ông là Trần Lê Vang, sinh ngày mùng 1 tháng 1 năm 1940, tại làng Châu Phong (nay là xóm 4), xã Xuân Thọ, Thọ Xuân (nay là huyện Triệu Sơn), Thanh Hóa.

 Trần Lê Vang.jpg

Ông Trần Lê Vang.

Tháng 3 năm 1963 ông là thanh niên tình nguyện xây dựng đường sắt Thanh Hóa - Vinh, biên chế vào Đội cầu Hàm Rồng, trực tiếp làm cầu Hàm Rồng. Ngày mùng 3, mùng 4 tháng 4 năm 1965, máy bay Mỹ đánh phá Nam Ngạn, Hàm Rồng ác liệt. Đội cầu cùng quân dân tỉnh Thanh Hóa dũng cảm đánh trả máy bay giặc Mỹ dưới mưa bom bão đạn đảm bảo an toàn mạch máu giao thông từ Bắc vào Nam. Năm 1965, Công ty Vận tải thuyền nan Thanh Hóa được thành lập, ông được điều về Đội công trình 6 phá đá ngầm, đá nổi trên sông Âm, sông Chu cho thuyền bè chở tre, luồng, nứa mây song về xuôi.

Rồi từ Đội công trình 6, ông được điều về đi học lớp Sơ cấp Kỹ thuật ở Thiệu Châu, Thiệu Hóa. Đang học kỹ thuật, ông được Ty Giao thông điều về làm cầu phao phà Ghép. Nhiệm vụ của đội kỹ thuật là cắt luồng xếp vào khung, nêm thật chặt làm phao bắc cầu. Không phải chỉ làm phao đủ cho một cầu mà phải làm rất nhiều phao dự trữ. Tan cầu phao này có ngay phao làm cầu khác. Tháng 1 năm 1966, ông được điều về Công ty vận tải thuyền nan chống Mỹ cứu nước với chức vụ Phó Phòng Kế hoạch. Ngay sau đó, ông được điều vào làm Trạm trưởng Trạm 5 của Công ty vận tải thuyền nan chống Mỹ cứu nước.

Cung độ vận chuyển của công ty từ Thanh Hóa vào đến Vinh, Nghệ An có 12 trạm. Trạm 5 từ cầu Lau đi vào hết kênh Son ra lạch Cờn. Trạm Trưởng phải rất thông thuộc thủy triều, lạch sông, con nước. Nếu không nắm chắc thời điểm nức sinh, nước đại, nước kiệt, không nắm chắc thủy triều, độ sâu nông chỗ bãi bồi nơi lạch Cờn, lạch Bạng gặp nhau sẽ rất nguy hiểm. Trạm trưởng phải chịu trách nhiệm trước hàng trăm sinh mạng con người, hàng nghìn tấn hàng hóa chi viện cho tiền tuyến. Trạm 5 là nơi ba con đường chiến lược giao nhau: Đường thủy (kênh Son) giao cắt với đường bộ (đường số 1) giao cắt với đường sắt Bắc - Nam. Ngày nào cũng rốc két, ngày nào cũng bom. Hết đợt này đến đợt khác. Trạm nằm giữa cánh đồng làng Thái Hòa, xã Trường Lâm, Tĩnh Gia. Trạm có 5 người, 1 trạm trưởng, 2 y tá, 2 điều độ.

Tuần nào, tháng nào cũng có thuyền bị trúng bom, trúng đạn. Có lần con nước lên không đúng như dự tính. Hàng trăm thuyền mắc cạn ở kênh Son. Bộ Tư lệnh Quân khu 4 ra lệnh mọi hỏa lực phòng không của ta từ Thanh Hóa vào Nghệ An phải tập trung bảo vệ đoàn thuyền nan trên kênh Son. Máy bay Mỹ đánh cả ngày cả đêm. Pháo kích cả ngày cả đêm. Mưa bom, bão đạn đúng nghĩa. Nhưng không một máy bay nào của chúng có thể tiếp cận đoàn thuyền. Hỏa lực của ta quá mạnh. Một điều kỳ diệu ngoài tưởng tượng là không thuyền nào trúng bom trúng đạn, không người nào bị thương. Ông Trần Lê Vang cũng có một may mắn kỳ diệu ngoài sức tưởng tượng. Một thùng rốc két nguyên vẹn từ máy bay Mỹ rơi xuống đúng hầm của ông nhưng không nổ. Nhưng một trận bom tọa độ vu vơ bất chợt, trạm của ông xé ruột xé lòng tiễn đưa năm đồng đội. Máu họ đẫm người ông. Họ ngừng thở trên tay ông. Trạm Năm của ông không ít kỷ niệm như thế.

Đầu năm 1968, Đoàn Vận tải Lam Sơn Thanh Hóa được thành lập để vận chuyển lương thực, thực phẩm chi viện cho miền Nam, chi viện cho Quảng Bình. Ông được Chủ tịch UBND tỉnh Thanh Hóa cử làm Trưởng Ban đại diện thay mặt Đoàn Vận tải Lam Sơn Thanh Hóa vào bàn bạc với UBND tỉnh Quảng Bình để thành lập Đoàn Vận tải Lam Sơn trên đất Quảng Bình. Chiến tranh ác liệt, bom đạn dữ dội, nhưng nơi nào cũng băng zôn khẩu hiệu “Nhiệt liệt chào mừng Đoàn Vận tải Lam Sơn Thanh Hóa vào giúp Quảng Bình”. Thế rồi Đoàn Vận tải Lam Sơn Thanh Hóa tại Quảng Bình được thành lập với một Chi bộ, bí danh là Chi bộ B3. Ông Trần Lê Vang được chỉ định làm Bí thư.

Tháng 9 năm 1969, chiến dịch vận chuyển lương thực giúp Quảng Bình kết thúc. 9.915 tấn lương thực được vận chuyển. Đoàn Vận tải Lam Sơn Thanh Hóa hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình.

Ông Trần Lê Vang được điều về làm Bí thư Đoàn Công ty Vân tải thuyền nan chống Mỹ cứu nước Thanh Hóa. Cầm quyết định mới được 4 tháng, ngày mùng 1 tháng 1 năm 1970, ông lại được điều lên làm Phó Bí thư - Quyền Bí thư Đoàn Ty giao thông vận tải Thanh Hóa, trực tiếp phụ trách công tác Đoàn Đoạn Một: Gồm các Đội TNXP Đò Lèn, cầu Lèn, cầu Cừ, (Hà Trung), cầu Tào, cầu sắt Hàm Rồng, cầu phao Hàm Rồng, cầu phao phía Bắc Yên Vực vào đến cầu Ghép, phà Ghép cầu tránh Ngọc Trà. Bom đạn bọn Mỹ dội xuống các khu vực này còn nhiều hơn những năm 1965, 1966.

Đoàn Thanh niên Đoạn Một được Đảng ủy Ty Giao thông giao cho phụ trách hai công trình quyết thắng: Công trình quyết thắng làm cầu phao Hàm Rồng; Công trình quyết thắng làm cầu phao phía bắc làng Yên Vực. Bến phà Ghép được gọi là Bến phà Thanh Niên Đoạn Một. Anh hùng liệt sĩ Mai Xuân Điểm và anh hùng Vũ Hùng Út phá bom từ trường ở phà Ghép xuất hiện trong phong trào “ba xung kích” của Đoàn thanh niên Đoạn Một giai đoạn này. Năm 1973, ông được bầu làm Bí thư Đoàn Ty Giao thông vận tải Thanh Hóa.

Ngày 30 tháng 4 năm 1975, đất nước thống nhất, ca khúc khải hoàn, ông nhận quyết định lên làm Đội phó, Bí thư Đoàn Đội Thanh niên tình nguyện (42-12). Đây là Đội TNTN mở đường biên giới Việt - Lào. Rồi ông được bầu vào Ban Thường vụ Đảng ủy Đảng bộ Đội TNTN (42-12).

Ông lại gắn bó với những con đường biên giới: đường Hồi Xuân - Tén Tằn dài 112 Km, 516 cầu cống, chạy qua 9 xã: Nam Xuân, Nam Tiến, Nam Động, Thiên Phủ, Hiền Trung, Hiền Kiệt, Trung Lý, Phù Nhi, Tam Chung. Con đường Lốc Toong - Nam Động, dài 17 km qua 3 xã: Trung Hạ, Trung Thượng, Nam Động. Chiến dịch nối chiến dịch, công trường nối công trường. Công trường Cổng Trời, Lát Xê, Pù Nhi, Lốc Toong. Công trường nào cũng mang tên công trường Đoàn. Đã mang tên công trường Đoàn tất nhiên ông Trần Lê Vang làm trưởng Ban công trường. Đội TNTN có phong trào Đoàn thi đua vô cùng mạnh mẽ.

Năng suất lao động từ các C đến Công trường Đoàn bao giờ cũng từ 120% đến 200%. Phong trào báo tường, văn nghệ, tập san phát triển sôi nổi, chất lượng. Đội văn nghệ của Đội có đủ loại nhạc cụ. Nhiều tiết mục tự biên tự diễn. Từ năm 1977 đến 1979, hơn 400 đoàn viên, thanh niên được xóa mù (hết lớp 4); hơn 200 trăm đoàn viên tốt nghiệp cấp II bổ túc văn hóa. Hàng trăm đoàn viên ưu tú được kết nạp vào Đảng. Hơn ba nghìn đoàn viên thanh niên nhưng không một ai đào ngũ, không trường hợp nào bị kỷ luật.

Chỗ nào có đoàn viên, chỗ đó có Trần Lê Vang. Chỗ nào có Công trường Đoàn chỗ đó có Trần Lê Vang. Pù Nhi, Lốc Toong, Pù Hin... có ông. Hơn 60 vạn khối đất đá từ nửa quả núi Pù Hin Hại sụt lở. Sau ít phút, ông và ông La Thế Duy có mặt ngay hiện trường. Ông bám chiếc dây an toàn dài mấy trăm mét lần xuống đáy thung tìm ba người lính của ông là Lê Thị Tràn, Lê Thị Hương, Lê Viết Dũng bị đất đá vùi lấp. Chính ông nâng họ lên, rồi lại áp tải ba chiếc quan tài đưa họ về quê.

Năm 1980, ông được cấp trên điều về đi học trường Hoàng Văn Thụ. Tháng 6 năm 1982, ông được điều về làm Bí thư Đảng ủy Cảng Thanh Hóa. 11 năm liên tục ông được tín nhiệm ở cương vị này. Năm 1993, ông được cấp trên cho nghỉ hưu theo chế độ. Tròn ba mươi năm cống hiến cho Đảng, Nhà nước, về địa phương, Đảng ủy xã Xuân Thọ lại động viên ông làm Chủ tịch Hội người cao tuổi của xã. Ông lại tiếp tục công tác thêm 22 năm nữa. Năm 2015, ông mới chính thức thôi gánh vác công việc tập thể. Ông cùng một số cán bộ cũ TNTN (42-12) không quản mệt nhọc, khó khăn, giúp gia đình hoàn chỉnh hồ sơ, giấy tờ, đi hết cơ quan này cơ quan khác có thẩm quyền đề nghị giải quyết chế độ, công nhận những người lính hy sinh trong khi làm nhiệm vụ mở đường biên giới là liệt sĩ.

Nhìn hai gian nhà nhỏ chẳng thấy treo bằng khen, huân chương tôi tò mò. Nhưng ông Trần Lê Vang cười rồi nói, có nhiều chứ. Huân chương, Kỷ niệm chương, Bằng khen, Giấy khen... Tôi đang để một đống trong kia kìa. Ông thật thà thế, đơn giản thế, mộc mạc thế. Cống hiến bao nhiêu cũng không cần lên tiếng. Thành tích bao nhiêu cũng không cần trưng bày. Ông là biểu tượng cao đẹp của thế hệ vàng; là biểu tượng cao đẹp của những con đường huyền thoại.

Nhà văn Nguyễn Minh Khiêm

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1