GMT+7
Trang chủ / Chân dung cuộc sống

Người giữ hồn Mường

Đăng lúc: 08/01/2019 08:00 (GMT+7)

- Không phải nhà nghiên cứu ngôn ngữ, văn hóa Mường chuyên nghiệp, nhưng trong tiềm thức của tôi, ông là người Mường đích thực. Ông yêu dân tộc Mường, say văn hóa Mường. Ông là người giữ hồn Mường.

 Hà Minh Du.JPG

Ông Hà Minh Du lúc sinh thời.

Ông là Hà Minh Du, ở làng Quán Trì, xã Yên Lâm, huyện Yên Định. Làng Quan Trì nằm dưới chân núi sinh ra tên làng. Dãy núi là một giao thoa lịch sử kỳ bí chưa lời giải thích. Phía Đông Nam Quán Trì là hang Nhà Mạc. Phía Tây Bắc là hệ thống hang động mang tên Lê Lợi. Khi Nông Trường Thống Nhất mới về đây khai phá, hai đầu dãy núi còn có lũy đất cao ba, bốn mét. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng đó là chiến lũy thời Cầm Bá Thước, một thủ lĩnh nghĩa quân Cần Vương cho xây chống Pháp. Ngọn đồi nơi nhà ông ở gần nối với chiến lũy nằm về phía Đông Bắc.

Ông sinh năm 1930. Ông là người dân tộc Mường một trăm phần trăm. Gốc gác gia đình ông ở huyện Cẩm Thuỷ. Sau nhiều lần tách nhập, Yên Lâm thuộc huyện Yên Định tỉnh Thanh Hoá. Yên Định có một xã miền núi duy nhất, đó là Yên Lâm. Tôi quen biết ông từ rất lâu, may mắn được trò chuyện nhiều lần với ông khi ông chưa là người thiên cổ.

Ông vẫn giới thiệu với mọi người tôi là bạn. Nhưng nếu gọi là bạn thì hơi khiếm nhã, bởi vì ông hơn tôi trên hai chục tuổi. Mặc dù quen biết nhau lâu thế, thỉnh thoảng vẫn sang nhà nhau chơi, song tuyệt nhiên tôi không thấy ông nói đang nghiên cứu gì, viết gì. Chỉ nhớ rằng, cách đây mười lăm năm, có đôi lần ông xin tôi giấy than. Thấy tôi có cái máy đánh chữ xách tay dùng để đánh bản thảo, ông bảo cũng thích tìm một cái. Vì có đôi ba lần được đọc thơ của ông in trên báo Văn hoá Thông tin (nay là Báo Văn hóa & Đời sống), Tạp chí Giáo dục Thanh Hoá nên tôi tưởng ông tìm máy đánh chữ chủ yếu để đánh bản thảo thơ.

- Thế nào tôi cũng phải nhờ anh giúp đấy.

Thỉnh thoảng vẫn nghe ông dạo thế. Nhưng quả thật không hiểu ông bảo giúp gì. Hôm được tận mắt nhìn ngắm, tận tay sờ vào từng trang bản thảo của ông, tôi thật sự bất ngờ. Tôi bất ngờ đến không tin nổi. Làm sao một người không phải là nhà nghiên cứu chuyên nghiệp, không phải nhà văn, không phải nhà báo, không có tên trong hội văn học nghệ thuật hay hội nghiên cứu khoa học lịch sử... mà lại có được một khối lượng bản thảo đồ sộ đến thế. Điều đặc biệt nhất, tập trung nhất là, khối lượng bản thảo đồ sộ ấy chỉ thể hiện về văn hoá Mường. Trước kia, tôi hay được nghe ông phân tích về nguồn gốc người Mường ở Thanh Hoá. Ông giải thích tại sao hình thành Mường Trong, Mường Ngoài. Ông nói rất sâu sắc, mạch lạc, có cơ sở khoa học về sự ảnh hưởng qua lại giữa ngôn ngữ Mường và ngôn ngữ Việt, nhưng ở dạng trò chuyện. Còn ở dạng nghiên cứu thì hôm đó tôi mới thấy ông đưa ra.

Công trình nghiên cứu đầu tiên mà ông giới thiệu với chúng tôi là tập Từ vựng nghĩa ngữ Mường - Việt. Ông cho biết, tập này hiện đã soạn được 75.000 từ. Một nửa đã được ông đánh máy cẩn thận vào khổ giấy A4. Một nửa nằm trong bản thảo viết tay. Tôi nâng chồng bản thảo lên thử ước lượng xem nặng bao nhiêu. Ông cười bảo, tổng cộng cuốn Từ vựng nghĩa ngữ Mường - Việt hai mươi hai xếp giấy trắng. Thật đáng nể. Chỉ có các đại gia tiểu thuyết mới dám mơ đến số lượng trang như thế cho một cuốn sách. Không phải mình tôi mà hầu hết những người đi cùng đều muốn biết xuất phát từ đâu mà ông say mê xây dựng bộ Từ điển Mường - Việt này đến thế? Ông bảo, ý tưởng viết bộ sách này hình thành từ khi được ông Vũ Ngọc Khánh, nhà nghiên cứu văn học dân gian và Phan Đăng Nhật, giáo sư hàng đầu về Văn hoá Mường gợi ý cho ông viết bài tìm hiểu Từ nghĩa trong Sử thi Đẻ đất Đẻ nước của Hoàng Anh Nhân và Vương Anh năm 1972. Lúc đầu cũng bình thường thôi. Khi đi vào tìm hiểu ông mới thấy, ngôn ngữ Mường đẹp quá, phong phú quá. Càng đi sâu càng thấy nó đẹp, nó quý. Ông khẳng định, ngôn ngữ Mường đích thực là ngôn ngữ người Việt cổ. Nó giàu có về bản sắc, giàu có về sức sống. Ngôn ngữ Mường là văn hoá Mường, là hồn Mường. Nếu mình không ghi chép lại để giữ gìn thì càng ngày nó càng mai một đi. Và từ đó ông bắt đầu tích luỹ. Khắp các huyện miền núi, chỗ nào có dân tộc Mường, chỗ đó có dấu chân ông. Đi đến đâu ông cũng ghi chép. Hỏi được từ nào mới, ông ghi ngay vào mảnh giấy. Thật tình cờ, khi chúng tôi hỏi cách làm thế nào để có được nhiều tư liệu, ông rút ngay trong túi áo vét sờn cũ ra một tập tờ lịch đưa cho chúng tôi xem. Tờ nào cũng chi chít, chằng chịt chữ, nghĩa.

Lần đến trước, ông đi vắng. Trong lúc trò chuyện với bác gái (vợ ông), bà phàn nàn:

- Ông cứ viết cả đêm, cả ngày như thế đấy. Ông hay ngủ lúc chập tối. Khoảng mười hai giờ, một giờ sáng là ông thức dậy và cặm cụi viết. Có khi viết đến sáng.

- Ông làm việc như thế đã mấy năm rồi, thưa bà?

Nghe chúng tôi hỏi, bà nhớ lại rồi đáp:

- Từ ngày ông ấy về hưu. Tức là từ năm 1986 đến giờ.

Chưa hết thán phục sức làm việc kiên trì, dẻo dai, đầy sự đam mê của ông đối với tập bản thảo Từ vựng nghĩa ngữ Mường - Việt thì tôi lại sững sờ trước bản thảo của 5 bộ sách nghiên cứu khác của ông. Đó là cuốn “Đôi nét văn hoá giao tiếp và ứng xử của người Mường tỉnh Thanh”. Tất cả bản thảo đã được đánh máy 400 trang giấy A4. Tôi nhẩm tính, những trang bản thảo chữ nhỏ li ti này mà in thành sách có lẽ phải bảy, tám trăm trang. Tiếp đó là tập bản thảo cuốn “Phong cách ứng xử của trai gái Mường qua xường”. Tập bản thảo này đúng 50 trang viết tay. Trang nào cũng kín đặc từ dòng đầu đến dòng cuối. Màu mực tím đã cũ. Không cần tinh lắm cũng biết nó phải được viết ra ít nhất cũng từ dăm bảy năm, mươi mười lăm năm  về trước. Theo như ông nói, đây là cuốn giới thiệu cho cuốn thứ tư là “Thiên tình ca trai gái Mường”. Ông bảo, bài xường này hay lắm. Trai gái hát với nhau bốn năm đêm, có khi mười đêm mới hết. Thiên tình ca trai gái Mường này, trước kia ông Hoàng Anh Nhân cũng có điểm đến một vài lần, nhưng mới điểm thôi. Chưa ai biết trọn vẹn cả. Ông mê lắm. Nhà ông từ đời cố đến đời ông nội, bà nội, bố, mẹ, các bà cô đều thuộc. Ông thuộc được là nhờ cái truyền miệng từ đời này qua đời khác trong gia đình.

Tôi hỏi:

- Ông có hát được không?

- Được chớ. Ông trả lời đầy tự tin.

Thế là ông hát. Ông hát say sưa bằng tiếng Mường. Hát như người ngấm hơi men. Hát như lên đồng. Ông lắc lư. Ông lảo đảo. Ông múa. Biết là tôi không hiểu. Ông dừng lại để giải thích. Như để minh chứng cho cái hay, ông giở bản thảo đọc cho chúng tôi nghe bài xường bằng tiếng Việt. Tôi nghe ông đọc đến năm, sáu trang. Trang nào cũng hay. Nhiều đoạn ông đọc rồi chuyển sang hát. Rõ ràng, trong lòng ông dạt dào hưng phấn. Gấp “Thiên tình ca trai gái Mường” dày khoảng hơn hai trăm trang giấy A4 đánh máy, ông chuyển sang tôi tập bản thảo đánh máy bằng giấy pơ-luya từ năm 1980. Tờ giấy bọc ngoài cùng làm bìa nổi bật dòng chữ viết tay là: “Văn hóa Mường”. Tôi lướt qua phần mục lục thấy lần lượt các gạch đầu dòng: Nhà gác, Công cụ lao động sản xuất, Nhạc cụ, Đồ dùng trong gia đình, Trang phục, Khua luống... Có lẽ phải đến hai, ba chục cái xuống dòng như thế. Công phu lắm. Tôi nghĩ. Tập bản thảo cuối cùng mà ông giới thiệu với chúng tôi là “Phong tục, tập quán của người Mường tỉnh Thanh”. Không ngờ tập bản thảo này cũng được đánh máy khổ giấy A4, gần 200 trang. Mặc dù tất cả đã được thể hiện nơi mục lục, ông vẫn giải thích, ví dụ như: tục Ma Mường, tục làm vía, tục cưới xin, tục dựng nhà... Tôi hỏi:

- Ông còn định làm gì với tập bản thảo này nữa không? - Ông bảo còn phải làm nhiều việc chớ. Ông muốn trong các bộ sách phải có nhiều tranh ảnh minh hoạ. Chẳng hạn nói về nhà sàn phải có cái hình nhà sàn, nói về chiêng giàm, phải có hình ảnh về chiêng giàm minh họa. Khi nói về trang phục người Mường, cũng phải có ảnh cái váy Mường, cái áo khóm Mường...  Là người đã từng làm sách, tôi biết đó là một tham vọng rất lớn, một tính toán cẩn thận, hiểu biết khá kỹ càng.

Chỉ riêng sáu tập bản thảo ấy thôi đem in thành sách khổ 13x19cm thì cũng tới vài ba nghìn trang. Nếu thêm tranh ảnh minh hoạ nữa thì số trang sẽ là bao nhiêu? Một khối lượng công việc, một số lượng trang bản thảo khiến không ít người cầm bút chuyên nghiệp phải kính nể. Ấy thế mà ông Hà Minh Du chỉ lặng lẽ làm, âm thầm làm. Làm không có phương tiện kỹ thuật nào trợ giúp. Làm không có trường lớp, nghiệp vụ nào hỗ trợ. Đi lại cũng chiếc xe đạp cũ. Không gì cắt nghĩa được ngoài sự đam mê. Ông cứ nhắc đi nhắc lại: Ngôn ngữ Mường đẹp lắm, giàu có lắm. Nó là văn hóa  Mường, là hồn Mường. Đơn giản là ông muốn giữ nó, giữ hồn Mường. Đó là sự lí giải tin cậy nhất về sự say mê nghiên cứu của ông.

Khắp ba gian nhà gỗ của ông chỗ nào cũng giấy khen, bằng khen. Ông có đủ Huân, Huy chương kháng chiến hạng Nhất, Nhì, Ba. Nhưng ông chỉ tóm tắt lí lịch trích ngang của mình ngắn ngọn: Năm 1952 đi bộ đội. Tháng 3/1953 chuyển sang thanh niên xung phong. Bám trụ ở ngã ba Cò Nòi. Có thời làm thư ký cho ông Lê Quảng Ba. Hết chiến dịch Điện Biên Phủ, 1955 chuyển về Ban chỉ huy Đoàn Thanh niên xung phong Trung ương. Sau đó đi học sư phạm. Ra làm thầy giáo. Năm 1965 về làm Trưởng phòng Giáo dục miền núi Ty giáo dục Thanh Hóa. Rồi Trưởng phòng giáo vụ trường Thanh niên Dân tộc miền núi Thanh Hoá. 1986, chính thức nghỉ hưu. Cuộc đời là thế. Nhiều đoạn thế. Nhưng ông thích nhất khi nói là thầy giáo về hưu. Hình như nghề dạy học đã giúp ông hiểu rõ hơn, hiểu sâu sắc hơn giá trị ngôn ngữ Mường. Chính vì thế mà ngay từ khi nghỉ hưu, ông dồn toàn bộ công sức vào các công trình nghiên cứu ngôn ngữ Mường, văn hóa Mường - cho đến lúc về trời.

Khoan hãy nói về cái được, cái chưa được trong các bộ bản thảo của ông. Khoan hãy nói đến tính khoa học, tính chính xác cũng như giá trị đích thực mà nó mang lại. Những cái ấy hãy đợi khi các tập bản thảo được hiện hình thành sách của các nhà xuất bản. Cái mà ngay từ lúc này ai cũng cảm nhận được là tình yêu dân tộc Mường, yêu văn hóa Mường, yêu ngôn ngữ Mường của ông lớn hơn bất cứ một thứ gì khác. Ngày, đêm trong trái tim ông, trong hơi thở của ông luôn có một hồn Mường đang thao thức.

Nhà văn Nguyễn Minh Khiêm

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1