GMT+7
Trang chủ / Chân dung cuộc sống

Gặp vị tiến sĩ Thanh Hóa có nhiều bằng sáng chế công nghệ sinh học nhất châu Á

Đăng lúc: 28/11/2018 10:00 (GMT+7)

- Với niềm đam mê nghiên cứu khoa học đặc biệt trong lĩnh vực sinh học, cùng với những thành tích đã đạt được từ các công trình nghiên cứu của mình, Tiến sĩ Lê Văn Tri - Tổng Giám đốc Công ty CP công nghệ sinh học và Công ty CP Phân bón Fitohoocmon, là người con Thanh Hóa tiêu biểu, tấm gương sáng, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, đóng góp vào sự nghiệp phát triển của đất nước.

Hành trình nghiên cứu và sự thành công

Sinh vào ngày  7/7/1952, tại xã Minh Khôi, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hóa. Năm 1975, ông Lê Văn Tri tốt nghiệp Đại học Tổng hợp Kisinhop (Liên Xô) rồi trở về Việt Nam làm việc và được phân công làm tại Trung tâm nghiên cứu vi sinh vật, thuộc Viện khoa học Việt Nam. Lý do ông chọn ngành vi sinh vật trong khi các bạn bè khác chọn ngành sinh lý động vật hay thực vật bởi nhận thấy đây là ngành giúp ông làm được nhiều thí nghiệm với đặc tính của vi sinh vật là phát triển nhanh và khả năng cho ra đời nhiều thế hệ mới.

Năm 1988, ông bảo vệ luận án tiến sĩ sinh học tại Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam với công trình “Nghiên cứu điều kiện sản xuất Gibberellin A3 trên môi trường xốp từ một số chủng nấm Fusarium moniliforme Sheldon và ứng dụng cho một số cây trồng ở Việt Nam”. Sau đó ông thực tập sau tiến sĩ tại Viện Sinh lý Thực vật Timiliazev (Moskva) và Viện Quang hợp - Thổ nhưỡng (Pusino), Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô rồi trở về làm việc tại Việt Nam từ đó đến nay.

Năm 2001 đến nay, Tiến sĩ là Chủ tịch Hội đồng quản trị, kiêm Tổng Giám đốc Công ty CP Công nghệ sinh học và Công ty CP Phân bón Fitohoocmon. Ông giữ chức vụ Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Sinh học Việt Nam từ năm 2004 đến nay.

 Tiến sĩ Lê Văn Tri.JPG

Chân dung Tiến sĩ Lê Văn Tri.

Gần 40 năm gắn bó và làm việc trong lĩnh vực nông nghiệp và vi sinh, Tiến sĩ Lê Văn Tri đã có hơn 80 công trình khoa học và bài viết trong nước, quốc tế; viết và chủ biên 10 đầu sách. Ông được giới khoa học biết đến là một người có nhiều công trình nghiên cứu góp phần vào sự nghiệp phát triển của đất nước. Tiêu biểu, với khát vọng áp dụng khoa học vào thực tiễn, nâng tầm cây lúa của Việt Nam giúp người dân bớt khổ, tiến sĩ đã đưa ra thị trường gần 30 nhãn hiệu hàng hóa cấp quốc gia về công nghệ sinh học và phụ gia ngành xây dựng. Tính đến nay ông có 32 bằng độc quyền sáng chế về công nghệ sinh học như: Chế phẩm vi sinh để xử lý rơm rạ và Quy trình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ sử dụng chế phẩm này; Chế phẩm vi sinh xử lý H2S trong nuôi trồng thủy sản, Quy trình sản xuất phân bón sinh học tổng hợp dùng để xử lý đáy ao hồ trước khi nuôi thủy sản; Quy trình sản xuất mộc nhĩ trên cơ chất bã mía; Chế phẩm dùng để xử lý nước ao nuôi thủy sản; Chế phẩm hương liệu men sinh học tổng hợp;... Trong đó ông có 10 bằng sáng chế độc quyền về sự phát triển cây lúa, như: Phương pháp ngâm ủ hạt lúa tươi mới thu hoạch; Chế phẩm tăng năng suất lúa (FIVILUA hoặc TASALUA); Quy trình sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh; Hệ thống thiết bị và quy trình sản xuất chế phẩm vi sinh trên môi trường xốp...

“Cha đẻ” của nhiều công trình để đời

Đề tài nghiên cứu “Chế phẩm vi sinh (Fito-Biomix RR) để xử lý rơm rạ và Quy trình xử lý rơm rạ thành phân bón hữu cơ nhờ sử dụng chế phẩm này” do tiến sĩ làm chủ nhiệm đã đảm bảo nền sản xuất nông nghiệp bền vững trong bối cảnh đồng ruộng đang có nguy cơ bị ô nhiễm và “ngộ độc” do người dân lạm dụng các loại phân bón hóa học cho cây trồng. Đề tài đã thử nghiệm thành công tại nhiều địa phương khác nhau trong cả nước, như: Thái Bình, Nam Định, Thanh Hóa, Hòa Bình, Hưng Yên, Hà Nội... đem lại hiệu quả kinh tế cho người dân và được các chuyên gia nông nghiệp đánh giá rất cao.

Theo Báo cáo tổng kết công tác của Bộ Khoa học và Công nghệ (KH-CN) cho biết, Việt Nam có hơn 70% dân số làm nông nghiệp và lúa là cây trồng chính, do vậy lượng rơm rạ sau thu hoạch rất lớn, ước khoảng gần 46 triệu tấn/năm. Lượng rơm rạ dư thừa được nông dân xử lý bằng biện pháp đốt ngay trên đồng ruộng đã làm ô nhiễm môi trường sống và hệ sinh thái đồng ruộng, đặc biệt ở các vùng nông thôn.

Quy trình biến rơm rạ thành phân bón hữu cơ được thực hiện thông qua việc rơm rạ tươi sau thu hoạch được tưới dung dịch chế phẩm Fito-Biomix RR, bổ sung thêm NPK và phân chuồng nếu có rồi ủ khoảng 1 tháng. Loại phân hữu cơ này giúp cây lúa sinh trưởng phát triển cân đối, giảm thiểu sâu bệnh, năng suất và giá trị cây lúa tăng cao.

 Tiến sĩ Lê Văn Tri hướng dẫn triển khai dự án xử lý rơm, rạ.JPG

Tiến sĩ Lê Văn Tri hướng dẫn triển khai dự án xử lý rơm, rạ tại ruộng bằng chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR nhân ngày môi trường thế giới 5/6 cùng với Hội làm vườn và trang trại tỉnh Thanh Hóa.

Tiến sĩ Lê Văn Tri cho biết, chế phẩm sinh học Fito-Biomix RR bao gồm các chủng vi sinh vật phân giải hữu cơ, vi sinh vật kháng bệnh cho cây trồng, các nguyên tố khoáng, vi lượng... có tác dụng bổ sung các chủng giống vi sinh vật phân giải hữu cơ có khả năng phân giải triệt để rơm, rạ sau thu hoạch thành phân bón hữu cơ vi sinh giàu dinh dưỡng phục vụ sản xuất nông nghiệp. Sản phẩm làm cân bằng được các yếu tố bảo vệ môi trường không khí, đất, nước, an toàn cho người sử dụng và tạo độ tơi xốp cho đất.

Tiến sĩ cho biết thêm, khi ứng dụng loại phân hữu cơ này cho cây lúa, ngô, lượng phân hóa học giảm từ 20-30%, năng suất cây trồng tăng từ 10-15% góp phần tiết kiệm chi phí sản xuất và gia tăng giá trị kinh tế cho bà con nông dân. Việc sử dụng các chế phẩm sinh học như Fito-Biomix RR để xử lý rơm rạ thành phân ủ hữu cơ bón cho cây trồng sẽ tận dụng sản phẩm dư thừa sau thu hoạch nhằm bổ sung phân hữu cơ tại chỗ, tiết kiệm chi phí, tạo thói quen cho người dân không đốt rơm rạ sau thu hoạch, bảo vệ môi trường, tăng độ phì cho đất và nâng cao năng suất, chất lượng cây trồng.

Theo tính toán của các chuyên gia, nếu 50% lượng rơm rạ sau thu hoạch của các địa phương trong cả nước được xử lý bằng chế phẩm sinh học Fito - Biomix RR thì lợi nhuận thu được cho các đơn vị sản xuất chế phẩm là 225 tỷ đồng/năm. Đối với người sử dụng chế phẩm để sản xuất phân ủ sẽ thu được lợi nhuận ước đạt 5.300 tỷ đồng/năm. Đối với người sử dụng phân ủ, không chỉ tiết kiệm được kinh phí mua phân vô cơ, việc sử dụng phân ủ đã đem lại hiệu quả kinh tế, nâng cao năng suất cây trồng, tăng hiệu quả cho người nông dân. Công trình của Tiến sĩ Lê Văn Tri đã nhận được giải nhất Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam 2014 (VIFOTEC) và cúp vàng thế giới 2014.

Gần đây nhất, năm 2016, công trình Thâm canh trồng sả trên vùng đất biến đổi khí hậu để thu tinh dầu phục vụ tiêu dùng, xuất khẩu và sản xuất phân bón hữu cơ vi sinh của tiến sĩ Lê Văn Tri cùng đồng nghiệp vừa giành giải nhất Giải thưởng Sáng tạo khoa học công nghệ Việt Nam 2016 (VIFOTEC) và cúp vàng WIPO thế giới 2016 đã góp phần trong việc bảo vệ môi trường, ứng phó với sự biến đổi khí hậu. Tinh dầu có thể sử dụng trong các ngành y - dược, thuốc bảo vệ thực vật, mỹ phẩm, sát trùng, xà phòng,... Lá sả sau chưng cất được sử dụng làm đệm lót sinh học, sản xuất phân hữu cơ vi sinh.

Theo tính toán của nhóm nghiên cứu, quy trình “trồng sả - thu tinh dầu - sản xuất phân bón” có thể mang lại hiệu quả kinh tế khoảng hơn 143 triệu đồng/năm/ha. Kết quả này do đầu tư cho trồng sả thấp, thời gian thu hoạch nhanh và kéo dài, khả năng chống chịu tốt nên hiệu quả cao, gấp 7 - 8 lần so với trồng lúa. Người dân không những tăng thu nhập từ việc bán lá, củ, mà còn thêm khoản lợi lớn từ việc thu tinh dầu, từ lượng bã sả làm phân bón hữu cơ vi sinh. Trên diện tích thâm canh 20 ha trồng sả, một nhà máy sản xuất tinh dầu sẽ thu về lợi nhuận từ 1,5 đến 1,6 tỷ đồng mỗi năm.

Nhiệt huyết và những cống hiến

Với những công trình nghiên cứu có sự đóng góp to lớn vào sự nghiệp phát triển cho nền kinh tế nước nhà, Tiến sĩ Lê Văn Tri đã được ghi nhận qua nhiều giải thưởng và danh hiệu cao quý liên quan đến đề tài, dự án như: Huy chương vàng “Sản phẩm Gibberellin chất kích thích sinh trưởng cây trồng” - Hội chợ triển lãm kỹ thuật Việt Nam; Huy chương đồng “Chế phẩm Lufain” - Hội chợ triển lãm kỹ thuật Việt Nam (1990); Huy chương “Vì sự nghiệp khoa học và công nghệ (2001); Huy chương Techmart 2003 “Công nghệ sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh FITOHOOCMON (2003); Cúp vàng Techmart Việt Nam 2005 “Công nghệ sản xuất các chế phẩm tăng năng suất cây trồng (2005); Cúp vàng - Giải nhất giải KHCN-VIFOTECH (2006); Huy chương bạc - Giải nhì giải Triển lãm sáng tạo Quốc tế lần thứ 4 tại Seoul - Hàn Quốc (2008); Cúp vàng Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2011; Cúp vàng Techmart quốc tế Việt Nam 2012 - “Công nghệ sản xuất phân phức hợp hữu cơ vi sinh Fitohoocmon cho các loại cây trồng”; Cúp vàng Techmart quốc tế Việt Nam 2012 - “Công nghệ xử lý chế phẩm Fito-Biomix RR xử lý rơm rạ và các phế thải nông nghiệp tại ruộng làm phân bón sinh học”, 5 lần nhận Bằng khen của Thủ tướng Chính phủ về KHCN; nhận Huân chương Lao động hạng Ba của Chủ tịch nước năm 2014; 3 lần nhận cúp vàng sở hữu trí tuệ thế giới WPO... và điển hình Ngày 27/10/2012, Tiến sĩ Lê Văn Tri đã được Tổ chức Kỷ lục Việt Nam (VietKings) xác lập là người có nhiều bằng sáng chế trong lĩnh vực Công nghệ sinh học nhất Việt Nam và châu Á.

Mặc dù sinh sống và làm việc tại Hà Nội, nhưng tình cảm, tấm lòng hướng về quê hương Thanh Hóa trong ông vẫn không nguôi. Tiến sĩ chia sẻ: “Năm 1969, khi đi qua cầu Hàm Rồng để ra Hà Nội tập trung đi du học tại Liên Xô (Liên Xô cũ) trong tâm niệm của chúng tôi ai cũng muốn cố gắng phấn đấu học thật giỏi, thu được thật nhiều kiến thức để về phục vụ quê hương, đất nước. Sau những năm tháng về Việt Nam làm việc tại Hà Nội, dù xa quê hương nhưng tôi luôn canh cánh một điều là phải làm gì cho quê hương, nơi mình được sinh ra và được tuyển chọn cho đi học nước ngoài. Vì thế trong nhiều năm qua tôi đã hỗ trợ và chuyển giao hình thành nhiều nhà máy hữu cơ vi sinh tại Nhà máy Đường Lam Sơn, Nông Cống, Công ty Phân bón hữu cơ Miền Trung... Và triển khai ứng dụng nhiều đề tài khoa học cho tỉnh nhà, nhưng đến giờ tôi vẫn khao khát làm được nhiều hơn nữa cho quê hương”.

Trần Hà

0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1