GMT+7
Trang chủ / Biển đảo

Di sản văn hóa biển đảo tỉnh Thanh Hóa, nguồn lực để phát triển du lịch

Đăng lúc: 29/04/2017 09:00 (GMT+7)

- (VH&ĐS) Thanh Hóa được thiên nhiên ưu đãi với bờ biển dài đẹp, khí hậu mát mẻ, vùng Sầm Sơn là tiêu biểu. Với lợi thế là vùng biển đẹp, nguồn thủy hải sản phong phú, giao thông thuận lợi, tiềm năng biển Thanh Hóa đã đang mở ra triển vọng lớn để phát triển kinh tế du lịch.

Biển Thanh Hóa thuộc vịnh Bắc Bộ, có nhiều tài nguyên hải sản, khoáng sản. Bờ biển Thanh Hoá dài 102 km trải qua 6 huyện: Nga Sơn, Hậu Lộc, Hoằng Hoá, Sầm Sơn, Quảng Xương và Tĩnh Gia. Bao gồm  173 xã, phường, với dân số là 1.129.700 người, chiếm gần 1/3 dân số toàn tỉnh. Từ đất liền có những dãy núi kéo dài ra tận biển. Ngoài biển có các đảo nổi, đảo chìm như Hòn Nẹ, Hòn Mê và bán đảo Nghi Sơn. Đường bờ biển bị chia cắt bởi 5 cửa lạch. Sông Mã đổ ra biển rau: Lạch Sung, Lạch Trường (Linh Trường), Lạch Hới (Hội Triều); sông Yên: Lạch Ghép (Lạch Trào); sông Bạng: Lạch Bạng (Cửa Tấn), mỗi lạch có đặc điểm riêng như: Lạch Ghép khó vào, Lạch Trào khó ra. Ở các cửa lạch, nơi sông gặp biển hình thành nên những cửa sông lớn, là nơi tụ hợp đông dân cư làm nghề đánh cá, chế biến hải sản và buôn bán. Thanh Hóa được thiên nhiên ưu đãi với bờ biển dài đẹp, khí hậu mát mẻ, vùng Sầm Sơn là tiêu biểu. Với lợi thế là vùng biển đẹp, nguồn thủy hải sản phong phú, giao thông thuận lợi, tiềm năng biển Thanh Hóa đã đang mở ra triển vọng lớn để phát triển kinh tế du lịch. Thanh Hóa còn có cảng nước sâu Nghi Sơn thu hút nhiều  nhà đầu tư trong nước và quốc tế.

Cách đây khoảng 7000 năm, đồng bằng sông Mã với những tài nguyên phong phú, hấp dẫn đã lôi cuốn chủ nhân văn hóa Hòa Bình - Bắc Sơn ở vùng núi phía Tây Thanh Hóa rời khỏi hang động, mái đá xuống miền đồng bằng trước núi, làm nên văn hóa Đa Bút thuộc xã Vĩnh Tân, Vĩnh Lộc. Người Đa Bút thu lượm hến, trai nước ngọt và một vài loài nước mặn, tìm kiếm nhuyễn thể làm thức ăn, biết sử dụng tre, nứa, luồng kết thành những chiếc bè mảng để đi lại trên sông, biển và đánh cá. Di chỉ Cồn Cổ Ngựa xã Hà Lĩnh (Hà Trung) và Gò Trũng xã Phú Lộc (Hậu Lộc) cho biết cư dân nguyên thuỷ Gò Trũng rất thạo nghề đánh bắt cá biển. Người Gò Trũng còn có thể đóng được những chiếc thuyền gỗ bên cạnh bè truyền thống để ra khơi.  Với văn hóa Hoa Lộc, yếu tố văn hóa biển in đậm qua các di vật  như chì lưới, dấu vết xương cốt cá biển, hoa văn trên đồ gốm mang hình tôm, cá, vỏ sò, mắt lưới, sóng nước... mà còn thể hiện mối liên hệ, sự giao tiếp giữa chủ nhân văn hóa Hoa Lộc với các nền văn hóa vùng duyên hải và hải đảo xa.

Do cư trú ở dải đất ven sông biển nên nghề nghiệp của các làng này là đánh cá (một số làm ruộng). Với thế đứng trước biển, các làng Sầm thôn, làng Triều, làng Bến, làng Vạn, làng Trào, Cá Lập, Hải Thôn... ở tổng Lương Niệm (Sầm Sơn); kẻ Mom xã Quảng Nham (Quảng Xương); làng Diêm Phố, làng Bè, làng Bến, làng Đông, làng Thọ, làng Tây xã Ngư Lộc, Minh Lộc (Hậu Lộc), với những tên làng mang đậm chất biển: “Làng Đông, làng Thọ, làng Tây/ Cá te, ngao, dắt như cây ở rừng”. Sống trong môi trường biển, dần hình thành truyền thống biển.  Ca dao về nghề nghiệp làng biển huyện Hậu Lộc lưu truyền: Làng Tây vây kéo lưới rùng/ Moi, bơn nấu quả bứa rừng em mê/ Ngược xuôi rồi cũng tìm về/ Trở về làng Thọ làm nghề kéo te.

Biển từ lâu đời đã gắn bó với người Việt cổ xứ Thanh. Sống trong môi trường biển, nhưng cư dân biển tỉnh Thanh qua nhiều thế hệ đã sáng tạo và lưu giữ nhiều di sản văn hóa truyền thống có giá trị mang đậm dấu ấn biển khơi.

 cảng cá lạch bạng.JPG

Cảng cá Lạch Bạng.

Trong kho tàng di sản văn hóa ấy bắt gặp truyền thuyết về Mai An Tiêm với quả Dưa đỏ thời Hùng Vương đã bắt đảo hoang dâng cho con người sự sống. An Dương Vương trong thế cùng phải rời bỏ thành Cổ Loa cùng con gái Mỵ Nương chạy tới mảnh đất tận cùng đảo Nghi Sơn và được Thần Kim Quy rẽ sóng nước đi vào lòng đại dương sâu thẳm. Thần Độc Cước, một nửa người theo những người dân chài đánh cá ngoài khơi, một nửa ở lại đất liền cùng người dân cày cấy, gieo trồng cây trái, chống lại bọn quỷ biển. Hệ thống truyền thuyết ở miền biển tỉnh Thanh còn lưu truyền lại nhiều câu chuyện về những anh hùng văn hoá như ông Lau, ông Nưa, ông Tần... ông Cõng đá, ông Khổng Lồ gánh đất lấn biển để mở mang đồng ruộng. Ông quảy núi, sắp đặt nên các đảo Mê, đảo Nẹ, Hòn Bò, Hòn Bảng, núi Linh Trường... ở vùng biển Tĩnh Gia, Hoằng Hóa, Hậu Lộc. Bà Triều dạy dân dệt xăm xúc để cho “lưới dài, chài rộng” mỗi chuyến ra khơi trở về “cá đổ chan chan”, mọi nhà no ấm, Cho vợ bạn lưới ngồi không đếm tiền.

Ca dao làng biển phản ánh tâm hồn tình cảm và những bài ca lao động vất vả nhọc nhằn của cư dân với môi trường biển đầy sóng và gió, nhưng vẫn lạc quan bát ngát tình đời. Với thế đứng trước biển đã hình thành cho họ tính cách: Khảng khái, thẳng thắn, phóng khoáng, "ăn sóng nói gió", "có cứng mới đứng đầu gió".

Ngư dân coi biển là nguồn sống cho họ cơm no áo ấm: Bao giờ cho đến tháng mười/Bát cơm đầy cười, con cá bắc ngang; Biển khơi là mẹ, cánh buồm là cha nuôi lớn tâm hồn và khí phách của họ. Trước cảnh sắc biển trời của quê hương tươi đẹp, người dân làng biển  xúc động và cảm tác: Làng ta phong cảnh hữu tình/ Gió yên biển lặng có mình, có ta/ Lặng thì hôm sớm vào ra/ Con thuyền, tay lái có ta có mình.

Họ tự hào về sự tài ba, đảm đang công việc vẹn toàn của trai thanh, gái lịch đã thành mỹ tục: Trai làng vào lộng ra khơi/ Gái làng chợ búa muôn nơi đã từng/ Trai thời ra bể, vào sông/ Gái thời chăm chỉ lo trông cửa nhà.

Dân ca, dân vũ ở vùng biển có nhiều sắc thái. Hò là một loại hình sinh hoạt văn hoá vui tươi thể hiện niềm lạc quan yêu đời, khắc phục gian khó của những người dân biển. Hò có nhiều loại: Hò kéo thuyền, hò kéo lưới (rùng) hò vá lưới, hò ra khơi, ngoài ra còn có hò đi trẩy, đi chợ... các làn điệu hò là điệu hồn, tiếng lòng của những người dân biển luôn vang vọng, bổng trầm, lan xa trên vùng biển Đông đầy nắng, gió, sóng và cát, cả một miền quê hò hát tâm tình.

Dân ca làng biển được thể hiện trong Hát Khúc, phản ánh nghề nghiệp của cư dân nơi cuối sông đầu bể: Ngồi buồn chặt thép uốn câu/ Đốn cần xe nhợ gọt dao mắc mồi/ Trải chiếu ra ngồi/ Bờ sông đủng đỉnh/Là chốn thanh nhàn/ Là chốn ngao du/ Cá vược cá thu nghe mồi tìm lại/ Cá ở dưới bãi cá trắng như bông/ Anh trông xuống sông, buồm rung gió thổi/ Kẻ lặn người lội, kẻ chắng người đăng...

Tín ngưỡng tôn giáo và nghi lễ chiếm vị trí quan trọng trong đời sống tinh thần của những người dân biển. Do điều kiện sống và lao động của họ là môi trường biển. Biển đem lại nguồn lợi hải sản phong phú, song thiên nhiên và biển cả lại là một ẩn họa khôn lường vừa thách thức, vừa đe dọa tới tính mạng của họ, vì vậy họ phải dựa vào một niềm tin, vào một lực lượng siêu nhiên nào đó trước biển cả mênh mông hùng vĩ để làm chỗ dựa và sức mạnh tinh thần, vì vậy tín ngưỡng và tục thờ  của cư dân biển tỉnh Thanh rất phong phú và nhiều màu sắc.

Đặc biệt, tri thức dân gian qua những bài hát vè thực sự là sự tích lũy tri thức từ thực tiễn và đúc kết thành hải trình đường biển rất hữu ích và cần thiết, nhất là đối với các ngư dân dong ruổi cánh buồm ra khơi vào lộng, ngược Bắc, xuôi Nam: Kể từ lạch Vạn chạy ra/ Buồm dong ba cánh thuận hoà nghỉ ngơi/Canh năm thuyền chạy xa vời/ Tiếng khoan đưa nhịp thuyền rời Bắc Nam/ ... Giáp Thanh là chốn hiểm nghèo/ Đông Hồi nhìn xuống truông treo mấy nhà/ Tay cầm địa lý phân qua/ Mê sơn bốn mặt tựa là Gành Tiên/ Bảng treo lồ lộ trước tiền/ Hòn gì lác đác trông lên như cờ/ Cánh buồm đưa dịu phất phơ/ Chèo năm ba mái đợi chờ nước lên/ Trông vô vũng Ngọc vũng bền/ Khi vui ta cũng ghé thuyền vào chơi...

Qua khảo sát ở một số làng ven biển cho thấy tín ngưỡng của ngư dân miền duyên hải chủ yếu là Tục thờ cúng tổ tiên, ông bà, cô bác trong khuôn khổ dòng tộc, gia đình như ở những vùng miền khác. Cùng với thờ cúng tổ tiên, ngư dân thường đi chùa và thờ Phật với mong ước Phật bà Quan Âm phù hộ và cứu vớt cho họ trong những lần gặp nạn trên biển. Các chùa thờ Phật ở ven biển tiêu biểu: Chùa Tiên (Nga Sơn), chùa Ngư Lộc (Hậu Lộc), chùa Khải Minh (Sầm Sơn), chùa Mậu Xương (Quảng Xương), chùa Đót Tiên (Tĩnh Gia),... Trong khuôn viên của chùa, ngư dân không chỉ thờ Phật mà họ còn thờ cả thờ Mẫu và thờ Thần.

Tục thờ thần, vừa là nhân thần, vừa là thiên thần là tục thờ phổ biến của các làng, xã ven biển tỉnh Thanh. Các nhân thần và thiên thần vừa là Thành Hoàng của làng biển, có trường hợp lại là thành hoàng của cả một vùng rộng lớn chạy suốt cả một dải ven biển, tiêu biểu như: đền thờ như thờ Mai An Tiêm (Nga Sơn): người chinh phục đảo xa và tìm ra giống quả dưa lạ; thờ Đức Thánh Trần (Nga Thuỷ - Nga Sơn) dùng thủy quân rút vào Thanh Hóa bảo toàn lực lượng, sau đó dốc sức đánh tan quân Nguyên xâm lược; Tô Hiến Thành - vị quan chính trực, khoan thư sức dân, có công trấn giữ vùng biển Thanh - Nghệ  được thờ ở Hoằng Tiến (Hoằng Hoá), làng Núi (Sầm Sơn), Hải Thanh (Tĩnh Gia); thờ Quang Trung - Nguyễn Huệ: Người lập phòng tuyến Tam Điệp - Biện Sơn, đánh tan quân Thanh, bãi miễn cho dân biển không phải nạp lệ yến sào, các di tích thờ ở Quảng Nham (Quảng Xương), Hải Thanh, Nghi Sơn (Tĩnh Gia ); thờ Độc Cước, vị thần xẻ mình làm hai nửa bảo vệ dân chài ngoài khơi, một nửa bào vệ dân làng ở đất liền trước sự tàn ác của quỷ biển  với nhiều nơi thờ ở Sầm Sơn - Hoằng Hóa - Tĩnh Gia - Hậu Lộc... Các vị thần linh biển được thờ ở tỉnh Thanh phổ biến là phúc thần được nhân dân tôn thờ, đề cao bởi họ là những vị thần mang tính thiện, luôn phù hộ, giúp đỡ cho con người trong những hoàn cảnh khó khăn, đặc biệt là đối với cư dân chài lưới đi khơi, đi lộng luôn phải đối mặt với bão tố, sóng thần bất ngờ ập tới đe dọa mạng sống và miếng cơm, manh áo của họ.

Tục thờ Mẫu, phổ biến là thờ Mẫu Thoải, tục thờ này có từ lâu đời gắn với tín ngưỡng thờ nước của cư dân biển. Tiếp đó mẫu Liễu Hạnh, thờ Tứ Vị Thánh Nương,... được các làng và người dân sinh sống ở các cửa sông tiếp giáp với biển phụng thờ. Các đền thờ có khi chỉ thờ một Mẫu riêng biệt, nhưng có nơi một điểm thờ lại phối thờ nhiều Mẫu, tiêu biểu như các đền thờ Mẫu ở: Cửa Sung (Nga Sơn), Ngư Lộc (Hậu Lộc), Quảng Tiến (Sầm Sơn), Quảng Nham (Quảng Xương), Hải Thanh (Tĩnh Gia)...

(còn nữa)

TS. Hoàng Minh Tường


0 Bình luận
Ý kiến bạn đọc
1