GMT+7
  • Tags
  • Chủ đề: Hoàng Tuấn Phổ

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ cuối: Làng biển Sầm Sơn

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ cuối: Làng biển Sầm Sơn

Sau 30 bài viết trong chủ đề "Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh" của Nhà nghiên cứu văn hóa Hoàng Tuấn Phổ, Báo Văn hóa & Đời sống đã giới thiệu đến quý bạn đọc xa gần những địa danh, thôn làng trên khắp các vùng, miền ở Thanh Hóa. Từ giới thiệu phong tục, tập quán, sắc thái văn hóa, con người..., những bài viết này đã góp phần tô đậm thêm bề dày truyền thống văn hóa lịch sử lâu đời của mảnh đất xứ Thanh địa linh nhân kiệt.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 9: Đồn điền Vạn Lại

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 9: Đồn điền Vạn Lại

Phía trên Yên Trường (xã Thọ Lập, Thọ Xuân) là Vạn Lại giữa vùng đồi núi nhấp nhô chen lẫn gò đống ngổn ngang. Thế đất Vạn Lại đẹp mà hiểm. Vì vậy, nhà Lê Trung hưng sau khi đã chọn Yên Trường làm cứ địa chống nhà Mạc, phải dựa vào Vạn Lại để tạo thế liên kết một khối, “tiến vi công thoái vi thủ”. Việt sử thông giám cương mục thuật “lời Thái sư Trịnh Kiểm: “Lập quốc tất phải căn cứ vào nơi hiểm trở. Sách Vạn Lại núi đứng vững, nước uốn quanh thực đáng gọi là nơi hình thế đẹp. Đó là do trời đất sắp đặt để làm chỗ dấy nghiệp đế vương...”.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 8: Sở đồn điền

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 8: Sở đồn điền

Nước ta thời Lý - Trần bắt đầu lập đồn điền. Tài liệu xưa ghi chép để lại rất nghèo nàn. Một số làng Việt có căn cứ thực tế kết hợp truyền ngôn từ xưa như làng Lan, làng Du Vịnh đều ở Quảng Xương, nguồn gốc người Chiêm Thành bị bắt làm tù binh, triều đình đưa về những địa phương kề sông, giáp biển để khai hoang vỡ rậm.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 7: Khoai lang Tĩnh Gia

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 7: Khoai lang Tĩnh Gia

Dọc miền duyên hải Thanh Hóa, các huyện Hậu Lộc, Hoằng Hóa, Quảng Xương, Tĩnh Gia đều là đất khoai lang. Nhưng kể về khoai lang nhiều và ngon đứng hàng đầu, thứ nhất Tĩnh Gia, thứ nhì Quảng Xương.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 6: Cói Lác Thanh Hóa

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 6: Cói Lác Thanh Hóa

“Chiếu Nga Sơn, gạch Bát Tràng...” câu thơ nổi tiếng của Tố Hữu khiến người ta quên mất, Thanh Hóa có một vùng quê cói lác khá lâu đời. Thời Lê Trung Hưng, chiếu huyện Quảng Xương triều đình đã thu thuế, sang triều Nguyễn mức thuế ấn định cụ thể, không còn là thuế hàng chuyến đánh thuế qua tuần ty bến Mỹ Cảnh hay ngã ba Ngung.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 5: Nghề muối Ngọc Giáp

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 5: Nghề muối Ngọc Giáp

Tỉnh Thanh Hóa, các cửa lạch đều có nghề làm muối, tập trung nhiều nhất ở hai huyện: Hậu Lộc và Quảng Xương. Trong đó địa điểm Ngọc Giáp, Quảng Xương tồn tại lâu đời và chiếm sản lượng cao hơn cả.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 4: Nghề đan Quảng Phong

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 4: Nghề đan Quảng Phong

Cách đây hơn 400 năm, vùng đất xã Quảng Đức, bên cạnh xã Quảng Phong (Quảng Xương) ngày nay còn hoang vu, cây cỏ rậm như rừng, cồn cao bái thấp nhấp nhô đầy gai góc, những đầm hố sâu trũng chỉ thấy xanh rì cỏ năn, cỏ lác.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 3: Làng bên sông Ghép

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 3: Làng bên sông Ghép

Sông Ghép tên chữ Ngọc Giáp giang ở phía nam tỉnh Thanh Hóa, chia đất Tĩnh Gia, Quảng Xương làm hai huyện. Trước khi xây dựng cầu Ghép xi măng cốt thép nối hai đầu Quốc lộ 1A, bến Ghép nổi tiếng với bài thơ khắc vào bia đá của vua Thiệu Trị ca ngợi cảnh đẹp nơi đây.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 2: Vùng đất Cầu Quan

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 2: Vùng đất Cầu Quan

Vùng đất Cầu Quan, theo dã sử, hồi đầu công nguyên là xứ Côn Mang (Côn Mang chi địa). Những người đầu tiên cư trú ở đây quây quần trên núi Mưng, quanh núi Mưng. Núi Mưng trong thực tế là một quả đồi đất đỏ thấp nhỏ nằm ngay bên bờ sông Lãng Giang. Sườn núi dốc thoai thoải, gồm đất đỏ xen lẫn đá ba gian. Đất đỏ trồng cây tốt. Đá ba gian làm vật liệu xây tường nhà và chế tác công cụ, vật liệu lý tưởng của người tối cổ. Chân núi phía đông kéo dài đến 1km là đất cư trú của làng Mưng và làng Cáo, thời Lê đã có tên trong sách vở và truyền văn. Cư dân núi Mưng cắm đất tụ cư ở đây đủ điều kiện sinh sống thuận lợi, trồng lúa nước, làm nương rẫy, đánh cá sông và lên Ngàn Nưa thu hái lâm sản.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 1: Đất trại Tâm Quy

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh (Phần II) - Kỳ 1: Đất trại Tâm Quy

Xứ Thanh có bề dày truyền thống văn hóa, lịch sử, nơi có nhiều sản vật nức tiếng lưu truyền. Mỗi tên đất, tên làng chứa đựng chiều sâu văn hóa, gắn với từng thời kỳ của lịch sử đất nước và mang đậm các yếu tố của nền văn minh nông nghiệp. Mời bạn đọc trở lại loạt bài "Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh" của Nhà nghiên cứu văn hóa dân gian Hoàng Tuấn Phổ để hiểu và thêm tự hào về xứ Thanh địa linh nhân kiệt.

Kinh thành Vạn Lại

Kinh thành Vạn Lại

Nhà Lê Trung hưng ở Thanh Hóa, chọn sách Vạn Lại, hương Lam Sơn, căn cứ địa khởi nghĩa núi Lam, để xây dựng kinh đô Nam triều theo cách gọi của sử cũ, đối trọng với Bắc triều (Thăng Long) nơi nhà Mạc tiếp quản.

Tìm hiểu vấn đề ‘Danh xưng Thanh Hóa’ (Kỳ cuối): Đáp số đúng cho bài toán khó

Tìm hiểu vấn đề ‘Danh xưng Thanh Hóa’ (Kỳ cuối): Đáp số đúng cho bài toán khó

(VH&ĐS) Một lần về thăm tỉnh Thanh, nói chuyện với chiến sỹ, đồng bào, cán bộ Thanh Hóa, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, anh hùng giải phóng các dân tộc áp bức, nhà văn hóa lớn thế giới, ngẫu hứng đọc hai câu thơ: Tỉnh Thanh biển bạc rừng vàng/ Ruộng đồng bát ngát, xóm làng miên man.

Tìm hiểu vấn đề ‘Danh xưng Thanh Hóa’ (Kỳ I): Tên gọi tỉnh Thanh Hóa qua các đời

Tìm hiểu vấn đề ‘Danh xưng Thanh Hóa’ (Kỳ I): Tên gọi tỉnh Thanh Hóa qua các đời

(VH&ĐS) Trong lịch sử đất nước ta, Thanh Hóa là tỉnh dân số đông nhất, cũng là tỉnh nhiều tên gọi nhất. Tên gọi đầu tiên tỉnh ta là bộ Cửu Chân. Các sử sách xưa đều chép: “Hùng Vương lập quốc chia nước làm 15 bộ”. Bộ thời ấy là một đơn vị hành chính thuộc Trung ương. Trong 15 bộ này có tên bộ Cửu Chân. Đầu thế kỷ XV, Nguyễn Trãi soạn sách Dư địa chí cũng ghi 15 bộ như vậy nhưng Nguyễn Thiên Túng chú giải không khỏi bị lúng túng và hai bộ Bình Văn, Cửu Đức không rõ ở đâu? Thời cận đại, một số học giả tỏ ý nghi ngờ tên 15 bộ không có cơ sở chắc chắn. Riêng tên bộ Cửu Chân, chúng ta tin hoàn toàn chính xác là vùng đất Thanh Hóa.

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ VII): Phác họa người Sầm Sơn

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ VII): Phác họa người Sầm Sơn

(VH&ĐS) Hầu hết người dân Sầm Sơn trên đường di cư cứ men theo dọc bờ biển mà đi mãi, bàn chân lún cát lầy không hề chùn bước, nhặt con còng, con ốc... sóng đánh dạt vào để ăn.

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ III): Phong cảnh hữu tình

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ III): Phong cảnh hữu tình

(VH&ĐS) Kể từ khi người Pháp đặt nền móng (1907) đến năm 2017 Du lịch Sầm Sơn đã tròn thâm niên 110 năm phát triển, trở thành đầu tầu của du lịch Thanh Hóa. 110 năm trôi qua, mảnh đất Sầm Sơn luôn chuyển mình đổi khác để trở nên lôi cuốn hơn với bạn bè, du khách gần xa. Đó cũng là quãng thời gian có nhiều gặp gỡ, giao lưu, tiếp biến văn hóa nhưng Sầm Sơn luôn khẳng định, bảo tồn những nét đẹp văn hóa, tạo nên một điểm đến hấp dẫn, giàu sắc thái văn hóa. Hướng tới kỷ niệm 110 năm Du lịch Sầm Sơn sẽ được tổ chức trong tháng 4/2017, Báo VH&ĐS giới thiệu loạt bài viết "Sầm Sơn xưa và nay" để cung cấp một cách nhìn xuyên suốt về mảnh đất này từ quá khứ đến hiện tại và những dự định trong tương lai.

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ II): Những làng quê biển

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ II): Những làng quê biển

(VH&ĐS) Kể từ khi người Pháp đặt nền móng (1907) đến năm 2017 Du lịch Sầm Sơn đã tròn thâm niên 110 năm phát triển, trở thành đầu tầu của du lịch Thanh Hóa. 110 năm trôi qua, mảnh đất Sầm Sơn luôn chuyển mình đổi khác để trở nên lôi cuốn hơn với bạn bè, du khách gần xa. Đó cũng là quãng thời gian có nhiều gặp gỡ, giao lưu, tiếp biến văn hóa nhưng Sầm Sơn luôn khẳng định, bảo tồn những nét đẹp văn hóa, tạo nên một điểm đến hấp dẫn, giàu sắc thái văn hóa. Hướng tới kỷ niệm 110 năm Du lịch Sầm Sơn sẽ được tổ chức trong tháng 4/2017, Báo VH&ĐS giới thiệu loạt bài viết "Sầm Sơn xưa và nay" để cung cấp một cách nhìn xuyên suốt về mảnh đất này từ quá khứ đến hiện tại và những dự định trong tương lai.

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ I): Từ một cồn cát bỏng

Sầm Sơn xưa và nay (Kỳ I): Từ một cồn cát bỏng

(VH&ĐS) Kể từ khi người Pháp đặt nền móng (1907) đến năm 2017 Du lịch Sầm Sơn đã tròn thâm niên 110 năm phát triển, trở thành đầu tầu của du lịch Thanh Hóa. 110 năm trôi qua, mảnh đất Sầm Sơn luôn chuyển mình đổi khác để trở nên lôi cuốn hơn với bạn bè, du khách gần xa. Đó cũng là quãng thời gian có nhiều gặp gỡ, giao lưu, tiếp biến văn hóa nhưng Sầm Sơn luôn khẳng định, bảo tồn những nét đẹp văn hóa, tạo nên một điểm đến hấp dẫn, giàu sắc thái văn hóa. Hướng tới kỷ niệm 110 năm Du lịch Sầm Sơn sẽ được tổ chức trong tháng 4/2017, Báo VH&ĐS giới thiệu loạt bài viết "Sầm Sơn xưa và nay" để cung cấp một cách nhìn xuyên suốt về mảnh đất này từ quá khứ đến hiện tại và những dự định trong tương lai.

Thanh Hóa quê hương đạo Tam Phủ

Thanh Hóa quê hương đạo Tam Phủ

(VH&ĐS) Thanh Hóa, quê hương của anh hùng hào kiệt, cũng là xứ sở của thần thánh, tiên phật, nơi gặp gỡ nên duyên, chốn hẹn hò kỳ thú của những mối tình tiên - tục.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh - Phần II (Kỳ 9): Điền Trang Chiêu Văn Vương

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh - Phần II (Kỳ 9): Điền Trang Chiêu Văn Vương

(VH&ĐS) Trần Nhật Duật là con trai thứ 6 vua Trần Thái Tông. Theo quốc sử, khi mới lọt lòng mẹ, trên cánh tay Nhật Duật đã có hai chữ “Chiêu Văn” rõ như in. Bởi thế vua cha đặt tên hiệu Nhật Duật là Chiêu Văn. Năm Nhật Duật 13 tuổi, Trần Thái Tông ban tước Chiêu Văn Vương rồi phong chức phiêu kỵ tướng quân coi đạo Đà Giang.

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh - Phần II (Kỳ 8): Tứ xã Bản

Văn hóa nông nghiệp xứ Thanh - Phần II (Kỳ 8): Tứ xã Bản

(VH&ĐS) Sông Mạn Định, dòng sông ký ức thiên nhiên, thời gian đã xóa tan lớp lớp sóng nước rì rào để tầng tầng phù sa đắp bồi nên tứ xã Bản: Bản Đanh, Bản Chợ, Bản Chùa, Bản Voọc. Đó là 4 xã cùng mang tên “Bãi”, biến âm của “Nãi” theo quy luật biến âm ai = an, bãi = bản của thổ ngữ vùng đất cổ Thanh Hóa: Nông Cống, Triệu Sơn, Đông Sơn, Thiệu Hóa, Thọ Xuân, Yên Định… Người Thanh Hóa phân biệt rõ “bái” và “bãi”, bái là thân đất cao nội địa, bãi là khoảng đất bồi ven sông.